Mới ra trường, tôi được phân công về giảng dạy ở một trường nội trú vùng sâu. Con em dân tộc thiểu số, hoặc con em những gia đình diện chính sách, có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xét tuyển vào học ở đây. Các em được ưu tiên cấp sách vở, trang phục, được ăn ở trong khu nội trú ngay trong khuôn viên nhà trường. Cả trường lúc ấy chỉ có khoảng gần hai trăm học sinh, đủ các thành phần dân tộc, địa bàn thuộc ba huyện vùng sâu của mảnh đất Tây nguyên đại ngàn.
Tuy được chu cấp khá đầy đủ, thầy cô luôn quan tâm giúp đỡ, thân tình như ruột thịt nhưng nhiều em nhớ nhà, nhớ buôn làng, vườn tược nương rẫy…vẫn hay trốn về nhà.
Lớp tôi chủ nhiệm có em Hạnh, học khá nhất lớp, một tháng ít nhất cũng phải đôi ba lần trốn trường về nhà. Nhà em chỉ có hai mẹ con, bố trong 1 lần đi rừng bị mưa lũ cuốn trôi mất tích. So với độ tuổi đến trường, em học trễ 3 năm nên em cao lớn, chững chạc hơn các bạn trong lớp. Nhà neo đơn, mẹ hay đau yếu, lại lớn tuổi nên em không tha thiết việc học cho lắm, nhiều lần chỉ muốn bỏ học ở nhà làm nương rẫy giúp mẹ.
Có một đợt em về nhà hơn 1 tuần không thấy trở lại trường, thời ấy cũng không ai có điện thoại như bây giờ để liên lạc. Tôi rủ Tuấn, mới vào công tác cùng năm với tôi, tới tìm hiểu, vận động Hạnh đến lớp. Nhà Hạnh ở rất xa, cách trường hơn 60 cây số, đường rừng núi khó đi lại. Nơi em ở nằm kề khu rừng già nguyên sinh heo hút, vắng vẻ.
Dịp ấy cuối mùa mưa, đường xá lầy lội, hai thằng chật vật từ 1 giờ chiều tới 3 giờ vẫn chưa đến nơi. Hầu hết là đường đất, bùn đỏ nhão nhoẹt, nhiều đoạn phải dắt xe, hai bên đồi núi âm u hoang vắng. Ở đây người dân sống thưa thớt, rải rác ven chân đồi, nhiều nơi còn chưa có điện.
Bỗng cơn mưa chiều đổ sập xuống, hai thằng chạy tạt vào nhà dân trú mưa. Mưa rừng xối xả, trắng trời, gió đại ngàn thổi ào ạt trên những sườn đồi tre nứa, lau sậy um tùm. Nhà chúng tôi trú mưa người lớn đi làm rẫy chưa về, chỉ có hai trẻ nhỏ ở nhà.
– Ở nhà vắng thế này hai đứa không sợ à – Tuấn tươi cười với chúng.
Tuấn hỏi cho có chứ những đứa trẻ ở bìa rừng thế này quen rồi. Bố mẹ đi làm, chúng ở nhà nấu cơm, cho heo gà ăn, cắt cỏ cho trâu bò, rất vất vả. Hai đứa thấy khách lạ, nhìn nhau ngơ ngác, tụi nó ngồi tẽ các hạt ngô trong thúng, chắc trước khi đi làm bố mẹ khoán cho công việc như vậy.
– Bố mẹ làm rẫy có xa không? Tôi hỏi.
– Cũng gần chú ạ, phía sau hai quả đồi này, chắc giờ bố mẹ cháu cũng đang về – Thằng lớn chỉ ra phía sau, đồi núi trùng trùng điệp điệp.
– Hai cháu có còn đi học không?
– Có ạ – Thằng lớn nhanh nhảu đáp.
– Trường có xa không, cách nhà mấy cây? Tôi hỏi
– Trường trong làng, đi ngược vào trong khoảng 3 cây là tới ạ.
Đang trò chuyện với hai thằng nhỏ thì vợ chồng chủ nhà đi làm về. Anh tiếp chuyện chúng tôi, còn chị vợ lúi húi dưới bếp cho heo gà ăn và chuẩn bị bữa cơm chiều. Anh giới thiệu mình tên Phương, người gốc Cao Bằng vào vùng Tây nguyên này làm kinh tế được 8 năm rồi. Nghe chúng tôi nói đi vào xã Phú Lâm vận động học sinh đến lớp anh xua tay nói:
– Mưa to gió lớn thế này sao mà đi được, từ nhà tôi tới xã đó còn khoảng 6 cây số nữa, đường đất bùn lầy, khó đi lắm. Kể cả không mưa gió, bây giờ cũng 5 giờ chiều rồi, chẳng mấy ai đi qua quãng đường vắng vẻ ấy đâu.
– Ở vùng mình có cướp hay sao mà sợ đi đường vắng hả anh? Thấy anh Phương nói có vẻ nghiêm trọng, Tuấn hỏi.
– Không, dân ở đây nghèo có gì mà cướp. Cách đây khoảng 2 cây số, qua khúc cua cầu cây cày có ngôi miếu thiêng lắm.
Tôi với Tuấn tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Mình có động chạm gì đến đâu mà sợ anh? Tôi hỏi.
– Các chú ở xa không biết, chứ dân quanh vùng này, hãi cái miếu cô Tư ấy lắm, tầm xẩm tối là chẳng ai dám bén mảng đi ngang qua. Rất nhiều người thấy vong hồn cô Tư ở quanh cái miếu đó rồi. Giờ trời mưa to các chú quay về cũng không được, nghỉ tạm ở đây sáng mai hãy vào Phú Lâm.
Cơn mưa quá to, kéo dài ròng rã hơn hai giờ vẫn chưa dứt. Đúng là tiến thoái lưỡng nan, đành tá túc ở nhà anh Phương vậy. Vợ chồng chủ nhà rất hiếu khách, chỉ một lát sau đã bưng mâm cơm chiều mời chúng tôi cùng ăn. Thức ăn toàn những thứ có sẵn trong vườn nhà hoặc hái rau rừng trên đồi phía sau. Cá suối được nướng thơm phức, 1 đĩa đọt mây có vị đắng rất đặc trưng của người dân nơi đây. Anh Phương đem hũ rượu ngâm tổ ong rừng ra nhâm nhi tiếp chuyện chúng tôi.

Ngoài trời gió mưa rả rích, bên mâm cơm chiều anh Phương kể chuyện về miếu cô Tư cho chúng tôi nghe. Giữa núi rừng hoang vắng, câu chuyện càng tăng thêm tính ma mị, ghê rợn.
Giữa xã Phú Lâm, ngôi nhà gỗ mái đỏ nằm cạnh bên trạm y tế xã là gia đình ông Thông. Ông có 4 người con, ba trai, 1 gái. Dung là con gái út, nhưng là thứ tư trong 4 anh em, nên ở nhà thường hay gọi là bé Tư. Hồng trắng trẻo, xinh tươi, tới năm lớp 9 đã ra dáng là một thiếu nữ xinh đẹp, duyên dáng. Giữa học kì 2 năm học ấy, Dung bị sốt. Cô bị bệnh rất lạ, ban ngày thì ghê lạnh trong người, đêm đến người nóng bừng như lò than. Gia đình đem đi khám, uống đủ loại thuốc, cả Đông y lẫn Tây y đều không khỏi. Lạ lùng là đau bệnh, ăn rất ít nhưng Dung vẫn hồng hào, tươi tắn như thường, không vàng vọt ốm yếu như người bị bệnh thường gặp.
Hơn hai tháng sau thì đột nhiên cô hết bệnh. Nghỉ học quá lâu Dung không thể đi học tiếp, cô cũng xin bố mẹ cho ở nhà làm nương rẫy, không đi học nữa. Vài năm sau Dung trở thành 1 cô thôn nữ xinh đẹp nhất vùng. Đẹp người lại tốt nết, cô chăm chỉ việc nhà, vườn tược, hiền thục, đảm đang thanh niên trong vùng bao chàng thầm thương trộm nhớ, nhưng cô không để ý và tơ vương với người nào.
Xã Phú Lâm có con suối nhỏ chảy ngang qua, huyện chủ trương làm con đập nối giữa hai sườn đồi, tạo lên 1 hồ chứa nước nhỏ để xây dựng hệ thống thủy lợi cho người dân cải tạo đất rừng thành ruộng lúa nước. Phú Lâm vốn yên tĩnh đột nhiên nhộn nhịp hẳn lên khi có hàng trăm công nhân, kĩ sư về làm việc. Xe chở đất đá, vật liệu tấp nập ngược, xuôi. Công trình thủy lợi dự kiến 2 năm sẽ hoàn thành.
Nhà ông Thông mở quán nước mía đông khách hẳn lên, sau giờ giải lao từng tốp người lại ghé quán nghỉ ngơi. Dân làng vẫn trêu gia đình ông Thông, quá ông đắt khách bởi có cô chủ quán xinh đẹp. Mà cũng đúng thật, công nhân, kĩ sư xây dựng toàn là nam bởi thế họ hay ghé quán trêu đùa, tán tỉnh Dung. Dung ít nói nhưng lúc nào cũng tươi cười hiền hậu nên được lòng mọi người.
Trong những người hay vào uống nước, Dung ấn tượng nhất 1 anh chàng tên Nguyên. Anh còn rất trẻ nhưng là kĩ sư trưởng, chỉ đạo xây dựng công trình. Nguyên đeo kính cận, dáng dấp thư sinh, lúc nào cũng tươi cười, niềm nở với mọi người. Lúc nào anh cũng nán lại cuối cùng để được nói chuyện với Dung. Anh nói chuyện nhỏ nhẹ, hài hước, dí dỏm rất có duyên, Nguyên lại có tài đàn hát rất hay. Thỉnh thoảng anh lại cất giọng hát lên vài bài trữ tình trong trẻo. Trái tim cô thôn nữ xinh đẹp đã rung động trước chàng trai hào hoa, tài năng. Tình yêu của cặp trai tài, gái sắc nhanh chóng đâm nẩy lộc.
Mỗi lần về thành phố rồi trở lại Phú Lâm, Nguyên đều có những món quà giá trị biếu gia đình ông Thông, riêng Dung anh đều tặng 1 bó hoa hồng tươi thắm, sang trọng. Cả nhà ông Thông khi đó rất tự hào về chàng rể tương lai, có học vấn cao, nhà ở thành phố giàu sang.
Những đêm trăng thanh gió mát, Nguyên nắm tay Dung đi trên bờ đập cùng ngắm trăng sao. Ánh trăng trong vắt sáng soi đôi tình nhân trẻ đẹp, xứng đôi vừa lứa. Cả một vùng núi rừng tĩnh lặng chỉ có nhịp đập của hai trái tim đang yêu đương cháy bỏng. Họ hẹn hò nhau ngày về một tương lai có một mái ấm gia đình, yên vui bên những đứa trẻ đáng yêu của họ.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, hai năm đã trôi qua, công trình thủy lợi của xã đã hoàn thành. Người dân vui mừng vì có nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng, lại có thể cải tạo đất rừng thành ruộng lúa nước. Nhưng mọi người lại buồn và cảm thấy trống trải khi phải chia tay với những người kĩ sư, công nhân xây dựng. Khi họ ở thông xóm đông vui, nhộn nhịp, họ đi rồi trả lại 1 vùng quê núi rừng xanh thẳm, vắng lặng. Người buồn nhất có lẽ là Dung. Từ nay vắng bóng Nguyên, không còn được nghe anh trò chuyện vui vẻ, nghe tiếng đàn hát, hay những đêm trăng không còn được đi bên nhau. Trước khi chia tay, Nguyên hẹn tháng tới, sau khi ổn định chỗ làm mới sẽ đưa bố mẹ của mình tới thưa chuyện với gia đình Dung.
Một tháng, rồi hai tháng trôi qua không thấy Nguyên trở lại. Lúc này Dung thấy trong người nôn nao, bồn chồn khó tả. Mặt cô trở lên xanh xao, nhiều lúc đang ăn cơm cô chọt thấy lợm trong cổ, chạy ra vườn nôn thốc nôn tháo. Nhìn thứ gì cô cũng không muốn ăn, kể cả những thứ mà trước đây cô thích nhất.
Mẹ cô đưa cô ra bệnh viện thăm khám, có khi bệnh cũ lại tái phát cũng nên. Kết quả làm cả nhà choáng váng. Dung không bị bệnh gì cả, cô đang mang thai tháng thứ 3. Cô thôn nữ ngây thơ không biết mình mang thai từ khi nào.
Ông Thông tức tốc cử con trai cả đưa Dung lên thành phố tìm Nguyên. Hai anh em đến đúng địa chỉ Nguyên đã từng nói với Dung. Đó là 1 căn biệt thự sang trọng nằm sâu trong con hẻm. Họ bấm chuông, một người phụ nữ bước ra:
– Anh, chị tìm ai ạ? Người phụ nữ hỏi.
– Đây có phải là nhà anh Nguyên, kĩ sư xây dựng không bác? Dung hỏi
– Phải rồi, nhưng cậu ấy không có ở nhà. Nghe đâu vừa rồi cậu ấy đi công tác ở nước ngoài.
– Thế bố mẹ hay người nhà của Nguyên có ở đây không ạ? Anh trai Dung hỏi.
– Bố mẹ cậu ấy định cư ở Mỹ lâu rồi. Tôi chỉ là người giúp việc trông coi nhà cửa cho cậu ấy thôi.
– Khi nào anh ấy về thì bác nhắn giúp cháu có Dung tìm tới thăm bác nhé.
– Tôi sẽ nhắn cho, mà cậu ấy cũng đi suốt, ít về nhà lắm.
Nhà ông Thông như ngồi trên đống lửa không biết xử trí thế nào. Chàng rể tương lai như đã hứa hẹn giờ không biết ở đâu mà tìm, cái thai trong bụng Dung thì càng ngày càng lớn hơn. Cả nhà khi đó bàn bạc, giờ phải phá bỏ cái thai để Dung còn có thể lấy người khác, chứ Nguyên thì không hi vọng gì nữa rồi. yêu đương với Dung chỉ là trăng hoa, mây gió thế thôi, nếu ân nặng tình sâu cậu ấy đã tìm về rồi. Dung khóc lóc thảm thiết, nhất định giữ lại cái thai, không đành lòng phá nó đi, mặc cho gia đình khuyên nhủ thế nào đi chăng nữa.
——–
Nghe truyện đầy đủ ở video dưới đây:

Tôi là Duy Ly.
Tôi có sở thích lang thang trên mạng và viết lãng đãng, vu vơ.
Đề tài tôi yêu thích là viết những câu chuyện tâm linh, ma mị, kì bí.
Tôi lập trang web này để chia sẻ những bài viết và truyện ngắn của mình.













