Quan tài máu

tác giả

Ngày đăng bài

Chuyên mục

Nhà tôi ở ven sông, đối diện có bãi đất bồi rất lớn, cứ mỗi năm sau mùa mưa lũ đất phù sa lại bồi thêm, vì thế theo năm tháng nó ngày một rộng hơn. Cạnh bãi bồi là dãy núi đá vôi nhỏ cây cối ven chân núi um tùm, rậm rạp. Một vài gia đình sang trồng ngô khoai nhưng cũng chỉ làm một phần nhỏ của bãi ven sông, còn phần lớn sâu dưới chân núi đất sỏi đá người ta bỏ hoang hóa nhiều năm, ít người qua lại. Không hiểu lí do gì mà bãi bồi có rất nhiều rắn độc trú ngụ, nhiều nhất là giống rắn nhỏ cỡ ngón tay cái, mình gầy đét, xám đen như nhánh củi khô, người ta gọi chúng là rắn khô mộc. Loại rắn này thường ẩn nấp trong bụi tre nứa hay bụi chuối rừng rất khó phát hiện, chúng cực độc. Thằng Sơn cháu họ gọi tôi bằng chú cũng chết vì loại rắn này. Lần ấy nó sang bãi lượm củi cùng hai đứa bạn. Mải vơ củi nó không để ý nắm phải con khô mộc đang bám vào cành cây. Thằng Sơn nhanh tay vung dao chặt đứt đôi con rắn, phần đuôi rơi xuống đất ngọ nguậy, nhưng phần đầu vẫn ngậm chặt vào cánh tay nó. Sơn nắm đầu rắn giật mạnh ra đứt một mảng thịt ở cổ tay, đúng mạch máu, máu phun ra thành tia bắn đầy lên ngực áo. Nó vội gọi hai đứa bạn gần đấy lại xé áo quấn ngang cổ tay để ngăn nọc độc chạy về tim rồi nhờ chúng dìu về. Đến xẩm tối thì người nó tái nhợt, miệng sùi bọt mép trắng như xà bông, người nhà vội vàng đưa nó đi bệnh viện, được nửa đường thì nó mất. Năm đó thằng Sơn mới mười bảy tuổi.

Ngoài thằng Sơn làng tôi còn có bốn người nữa cũng bị rắn ở bãi bồi cắn chết. Bởi thế người dân làng tôi chẳng ai dám đi sâu vào bãi chặt cây, kiếm củi hay săn bắn chim chóc.

Làng tôi có một mái đình cổ kính, một ngôi đền rất linh thiêng được gọi là đền thánh Cả. Tuy nhiên mỗi dịp mồng một hoặc ngày rằm hàng tháng muốn đi lễ chùa phải sang chùa của làng bên khá xa. Những người già trong làng tôi nhiều lần bàn đến chuyện xây một ngôi chùa ở làng mình nhưng tìm mãi không biết chọn điểm nào để dựng. Trong làng chỗ nào nhà cửa cũng san san, chật cứng không còn một chỗ đất trống, chỉ còn duy nhất bãi bồi bên kia sông là đất của làng nhưng đi lại cách trở, hoang vắng, rắn rết độc địa bao quanh, có dựng chùa bên đó cũng chẳng ai dám sang. Dân làng bàn bạc nhiều lần nhưng đều bí, vì thế mà kế hoạch xây chùa nhiều năm phải dang dở.

Vào tiết đầu xuân năm mới làng tôi thường mở lễ hội, khách thập phương nô nức kéo về. Phần xem hội không nhiều, chủ yếu người ta về làm lễ ở đền Thánh Cả, người xe tấp nập, trên bến dưới thuyền nhộp nhịp, tưng bừng. Năm ấy làng tôi cũng mở hội như thường lệ. Mới ngày đầu du khách đã về chật cứng đường, người đến kẻ đi huyên náo cả một vùng thôn quê vốn yên bình, tĩnh lặng. Dọc bến đò đầu làng có đến hơn chục cụ già ngồi viết sớ cho du khách. Sớ là một tờ giấy màu vàng, người ta viết chữ Tàu bằng mực đen lên đó, nội dung thì tùy theo yêu cầu của khách, thường là cầu xin thần thánh, tiên phật phù hộ cho họ tấn tài tấn lộc, công danh hoạn lộ hanh thông, con cháu trong gia đình mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn. Sớ cùng với lễ vật được dâng lên thánh ở đền hoặc phật ở chùa.

Viết sớ thường là những cụ già học chữ Hán, thỉnh thoảng cũng có vài người trẻ họ là sinh viên học các lớp Hán – Nôm, thông thạo chữ nghĩa, tranh thủ kiếm tiền mùa lễ hội.

Năm ấy dân làng tôi ai cũng để ý đến một cụ viết sớ, vì nhìn cụ khác biệt hoàn toàn với những người khác. Thường cụ nào cũng khăn đóng áo the, ngồi trên chiếu hoa trải dưới đất, xung quanh treo lên dăm ba câu đối chữ Tàu, có ý khoe chữ mình đẹp, kiến thức uyên thâm để nhiều người tới thuê viết. Tuy nhiên cụ này chỉ ăn mặc giản dị, cụ mặc bộ quần áo gụ nâu, ngồi trên một mảnh bao tải tạm bợ. Tuy nhiên cụ viết chữ rất đẹp, văn phong trôi chảy từ trước đến nay chưa có ai được như thế. Ngoài viết sớ cụ còn nhìn tướng mạo chỉ cho khách những vận hạn làm ăn trong năm tới. Người nọ truyền tai người kia về tài năng của cụ, chả mấy chốc chỗ cụ ngồi người ta kéo đến chật như nêm. Cô Bôi, em ruột của bố tôi cũng cố chen chân vào xin được một tờ sớ cụ viết, vừa cầm trên tay bước ra vừa nói oang oang:

– Cụ tài lắm nhé, các bác xem chữ của cụ này, tôi chưa thấy ai viết đẹp như thế. Nhưng tôi phục nhất là nhìn mặt tôi cụ nói, năm ngoái cô bị chết hụt 1 lần, nhưng số cô may mắn lắm, cô là con út trong nhà, khi còn sống bố cô rất quý cô, khi ông cụ mất, ông luôn theo cô phù hộ, bởi vậy mà cô thoát được cái nạn năm ngoái – Ngừng một lát lấy hơi, cô Bôi liến thoắng – Đúng là năm ngoái tôi bị ngã xe máy ở chân đê, đầu đập vào tảng đá suýt chết là gì, rồi việc tôi là con út, khi sống bố tôi rất quý thì làm sao ông ấy biết được, đúng là quá tài các bác ạ.

Cô tôi là người hay chuyện, bà mà biết chuyện gì thì từ đầu trên xóm dưới đều biết cả. Không những cô tôi mà vài người trong làng  cũng vậy, ai cũng trầm trồ khen ngợi chữ đẹp và khả năng xem tướng số kì tài của ông cụ. Biết chuyện, những cụ già trong làng tôi đợi tầm xế chiều ra mời cụ vào đình làng uống nước trò chuyện. Bao nhiêu năm các cụ vẫn còn trăn trở chưa có được ngôi chùa để lễ Phật, nhân gặp ông cụ ở đây xin ông xem thế để chọn vị trí dựng chùa hợp với phong thủy cho dân làng làm ăn ngày một phát đạt hơn.

Nghe các cụ trong làng trình bày ý nguyện như vậy, ông nói:

– Làng ta có phước được hưởng lộc của thánh thần, tuy nhiên chỉ được hưởng tới đấy thôi, không có người nào thành đạt đường công danh làm chức tước lớn được đâu. Việc đặt chỗ xây chùa ở làng này là rất khó, đặt không đúng chỗ không khéo có chút lộc của thánh thần cũng mất luôn không được hưởng nữa.

Có một cụ trong làng lên tiếng:

– Nhưng dân làng chúng tôi bao năm nay mơ ước có một mái chùa dâng hương lên Phật vào những ngày rằm, đầu tháng. Cụ cố xem có còn chỗ nào đặt được không ạ.

Các cụ trong làng tôi còn cẩn thận đem họa đồ của làng ra trình bày. Ngẫm nghĩ một hồi ông cụ nói:

– Nếu làng ta có lòng với Phật như thế thì chỉ còn bãi bồi bên kia sông là có thể xây được chùa ở đấy. Đất bên đấy khá hiểm trở nhưng nếu chùa mà đặt được ổn định thì mọi chuyện sẽ yên thôi.

Chiều hôm đó các cụ già trong làng tôi nhã ý mời ông cụ dùng cơm thân mật ở sân đình, nhưng ông cụ một mực từ chối, ông xin đi ngay không biết về đâu, sáng hôm sau và cả mùa lễ hội năm đó không ai nhìn thấy ông cụ đó nữa.

Đầu hè năm ấy dân làng từ già đến trẻ vui mừng phấn chấn khi kế hoạch xây chùa bên bãi bồi đã được các cấp chính quyền thông qua. Xe cộ chở gạch đá, vật liệu qua lại tấp nập, người ta dự kiến sẽ xây xong vào đầu mùa thu.

Trời mùa hè nắng như đổ lửa, từng tốp thợ cần mẫn đào móng đổ bê tông gấp rút hoàn thành cho kịp tiến độ. Móng đã xong bắt đầu lên tường, khi lên tường ngang mặt người thì người ta bắc giàn giáo đợi hôm sau cho kết cấu cứng cáp sẽ xây lên tiếp.

Sáng hôm sau khi trời còn tờ mờ sáng, cánh thợ xây làng tôi đã lục tục kéo nhau lên đò sang bãi bồi. Vừa bước vào họ vô cùng kinh ngạc không hiểu sao toàn bộ các bức tường hôm qua mới xây bị sạt lở, xi gạch vương vãi, ngổn ngang khắp nơi. Họ kiểm tra thật kĩ xem có người nào tối qua sang đây phá, nhưng tuyệt nhiên không thấy dấu dấu chân. Họ báo cho chủ thầu thì được lệnh cứ tiếp tục xây, tối sẽ cắt cử người sang trông coi, theo dõi xem có kẻ nào phá phách.

Đội thợ xây lại cần mẫn xây từ đầu. Đến đêm họ cử một vài người dựng một lán nhỏ gần bờ sông thỉnh thoảng tia đèn pin lên kiểm tra, trông coi công trình xây dựng. Tầm khoảng 4 giờ sáng cho rằng giờ này cũng chẳng có kẻ nào hơi đâu mà mò sang tận bãi bồi mà phá, họ yên tâm nằm ngủ.

Trời vừa hửng sáng vài người dậy sớm hốt hoảng kêu lên, khi thấy toàn bộ các bức tường hôm qua mới xây, lại đổ rạp xuống đất như vừa trải qua một cơn bão lớn càn quét ngang qua.

Rõ ràng không ai có thể phá nhanh chóng và đồng loạt như vậy, phải có điều gì bất thường ở đây, đặc biệt đây lại là công trình tâm linh chắc hẳn phải ẩn chứa một sự bí ẩn nào đó. Đội thợ xây hôm đó không ai dám ở lại làm, về báo cho dân làng để tìm hướng giải quyết. Mọi người đều lo lắng cho rằng có khi mình làm điều gì chưa phải nên thần phật không cho xây tiếp, hay phạm phải long mạch chạy ngang qua chăng. Mỗi người một ý làm sự việc trở nên hỗ loạn không biết gỡ thế nào. Khi đó ông Quản Nghi là người có vai vế, tiếng nói có uy tín nhất trong làng lên tiếng:

– Xây cất đình chùa miếu mạo không phải là dễ. Tôi cũng từng nghe kể ở một vài nơi cũng xảy ra hiện tượng như thế này, cứ xây lên lại bị dỡ xuống, sau đó phải cúng bái nhiều lần mới được. Tôi có quen 1 người ở Hưng Yên, ông ấy là người học chữ Hán từ nhỏ, có khả năng cúng tế, chắc ta mời về làm lễ để cho sự việc êm xuôi.

Mọi người đều đồng ý vì cũng chẳng có ai biết hướng giải quyết nào khác. Hai ngày hôm sau thì bạn của ông Quản Nghi xuống làng tôi. Ông này được ông Quản Nghi giới thiệu tên là Phán, người cao, gầy, nước da rám nắng, mắt đeo kính cận vận bộ âu phục gọn gàng, thẳng thớm dáng vẻ là người trí thức. Các đồ cúng tế như thế nào ông dặn dò rất kĩ, khoảng hai tiếng sau mọi thứ đã được chuẩn bị đầy đủ.

Làng tôi bận nhất là vào dịp lễ hội đầu năm, sang đến hè thì kể cả việc đồng áng cũng đang tiết nông nhàn, chưa phải làm gì cả. Vì thế cả làng người đi đò, kẻ chạy xuồng máy lũ lượt kéo nhau sang bãi bồi xem cúng lễ. Ông Phán bảo thanh niên trong làng chuẩn bị kê một bộ bàn ở bãi đất trống hướng về phía ngôi chùa đang xây, mâm lễ vật được đặt ở đấy. Mọi thứ bày biện xong xuôi ông bảo phải đợi tới 10 giờ thì bắt đầu. Lúc này vào khoảng 9 rưỡi, trời không nắng gắt như mọi khi, thỉnh thoảng lại có làn gió nhẹ thổi từ sông lên khá mát mẻ. Chỉ còn khoảng mười lăm phút nữa gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn thổi tắt hai cây nến lớn cắm trên bàn. Ông Phán bước ra châm lại, nến cháy được một lát lại phụt tắt. Bỗng có một cơn lốc xoáy rất lớn lật tung cát trắng ở xung quanh, bụi bay mù mịt thẳng tiến lao về phía bàn lễ hất tung mọi thứ trên bàn. Mọi người chứng kiến mặt mày xanh xám. Ông Phán quay sang ông Quản Nghi:

– Tôi thấy thế này là bất thường rồi, không phải cúng tế nữa đâu, cho các cháu dọn đem về đi, tôi sẽ kiểm tra kĩ móng đặt chùa xem sao.

Nói rồi ông lôi trong túi ra hai que sắt nhỏ như tăm xe máy, làm bằng innox sáng bóng, mỗi que được bẻ thành 1 góc vuông. Hai que sắt được đặt song song trên bàn tay ông Phán. Ông từ từ tiến tới nơi xây chùa, rất nhiều người lặng lẽ đi phía sau theo dõi. Bỗng hai que sắt của ông rung lên bần bật, càng gần tới móng ngôi chùa nó càng rung mạnh hơn. Mặt biến sắc ông quay lại bảo với mọi người:

– Dưới chỗ đang xây chắc chắn có hài cốt. Tôi sẽ tìm vị trí chính xác mọi người đào lên có lẽ ổn thôi.

Nói đoạn ông lôi trong túi áo ra một vật to bằng đầu ngón tay út. Vật này cũng làm bằng inox, một đầu tròn xoay như viên bi có khuyên buộc dây dù, đầu kia thuôn dài nhỏ lại chỉ xuống dưới đất. Ông Phán nắm đầu dây dù cho vật tròn ấy thõng xuống đung đưa qua lại như con lắc đồng hồ, rồi cứ thế ông đi xung quanh móng ngôi chùa. Khi tới góc phía nam kì lạ thay vật tròn ấy như bị nam châm hút dính chặt xuống mặt đất, ông Phán kéo dây ra các hướng khác nhau nhưng vật tròn vẫn hướng về góc ấy. Ông quả quyết:

– Chắc chắn hài cốt nằm ở góc này. Mọi người cứ đào lên là sẽ thấy. Khi đưa hài cốt lên dân làng mình làm một lễ cúng đơn giản rồi an táng ở nghĩa trang là xong. Chiều nay tôi có việc phải đi Nam Định rồi. Lễ cúng này đơn giản, các cụ ở làng mình ai cũng có thể làm được.

Ông Phán vừa lên đò qua sông xong đi, cánh thợ xây được ông Quản Nghi đôn đốc cho đào chỗ góc móng chùa phía nam. Đào được hơn một tiếng chưa thấy gì, người dân chờ lâu cũng bỏ về gần hết, với lại càng về trưa khí trời oi bức không ai đủ kiên nhẫn ngồi xem trong cái nóng mùa hè hầm hập.

Đến tầm giữa trưa chỉ còn ba người thợ là chú Bỉnh, chú Tường và chú Mạnh, trong hội người cao tuổi chỉ còn ông Quản Nghi và ông Minh Nham. Người ướt đẫm mồ hôi, vừa thở hổn hển chú Tường vừa nói:

– Bọn cháu đào sâu tới tận hơn 2 mét rồi mà không thấy, có khi nào ông Phán đoán sai không ạ?

– Các cháu cố đào thêm khoảng nửa giờ nữa, nếu vẫn không thấy  thì về tạm nghỉ rồi tính tiếp – Ông Minh Nham nói.

– Tôi vẫn tin tưởng ở khả năng của ông Phán, ông đã từng nhiều lần tìm mộ thất lạc cho nhiều người, có kinh nghiệm như thế không thể nào sai được – Ông Quản Nghi quả quyết.

Ba chú lại tiếp tục đào sâu xuống, buổi trưa hè đứng gió, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, người nào người nấy mồ hôi nhễ nhại. Ông Minh Nham và ông Quản Nghi ở trên cũng nóng lòng muốn về. Bỗng chú Bỉnh reo lên:

– Có tấm ván dưới này – Vừa nói chú vừa lấy xẻng gạt đất ra để lộ một khoảng rộng chừng gang tay của tấm ván.

Mọi người quên mệt mỏi, dốc sức vào làm. Một lúc sau nắp chiếc quan tài lộ dần ra, nó được làm bằng gỗ lim, ngâm ở dưới đất nhiều năm nên đen bóng. Đây là loại gỗ rất tốt, ở dưới đất hoặc ngâm dưới nước hàng chục năm cũng không bị mối, mọt, mục nát.

– Khơi đất rộng ra để kéo quan tài lên, nhớ làm nhẹ nhàng thôi đừng động mạnh đến nó kẻo không hay lắm – Ông Minh Nham nói vọng xuống.

Lúc này một cơn gió hiếm hoi từ sông thổi vào khá mát mẻ, ba người thợ uống nước nghỉ ngơi rồi tiếp tục đào. Chiếc quan tài khá nhỏ so với bình thường, được người ta đóng tạm, qua loa nhưng rất kín và chắc chắn, nhìn màu gỗ bên ngoài có lẽ nó nằm ở đây hàng chục năm rồi. Gần một tiếng sau chiếc quan tài được ba người thợ kéo lên. Ai nấy nhìn nhau thầm phục ông Phán sát đất, hài cốt nằm ở sâu như thế mà ông vẫn thấy được không phải là đơn giản.

– Bây giờ để tôi gọi thêm người đưa quan tài qua sông rồi vào thẳng nghĩa trang của xã, sau đó ta nghỉ ngơi, chiều hội người cao tuổi chúng ta làm lễ an táng cho hài cốt yên vị ở đấy ông nhỉ – Ông Minh Nham quay sang trao đổi với ông Quản Nghi.

– Thì đúng rồi, ta phải làm như những gì ông Phán đã dặn thôi. Nhưng theo tôi ta cũng nên mở ra có khi biết được là mộ phần của ai, khi cúng lễ sẽ đúng hơn. Nhìn quan tài cũ thế này tôi nghĩ chắc cũng sẽ lâu năm lắm rồi, nhưng biết đâu vẫn còn xương cốt, dù chỉ còn một chút nhỏ ta cũng nên làm sạch sẽ, sang cát cho người ta vào một cái tiểu đặng yên lòng – Ông Quản Nghi nói.

Ba người thợ lấy xà beng, búa cậy nắp quan tài. Toàn bộ quan tài được khóa bằng các chốt gỗ khá chắc chắn, khi nắp vừa bật ra cả năm người nhìn vào thất kinh khi thấy chỉ còn cái hộp sọ người ở chính giữa xung quanh là một thứ nước sền sệt  màu đỏ thẫm như máu người đã được đông lại, hàng chục con rắn khô mộc bé như ngón tay út ngọ nguậy bên trong, từng bó rắn quấn vào nhau nhầy nhụa thật kinh dị, một mùi tanh tởm lợm bốc lên nồng nặc giữa nắng gắt trưa hè làm mọi người buồn nôn, ngột ngạt khó tả. Mọi người vội vàng đậy nắp qua tài lại.

– Thôi ta về rồi tính sau – Ông Minh Nham vừa nói vừa loạng choạng vội bước ra ngoài.

Tất cả không ai bảo ai, mặt tái ngắt, chân tay tê lạnh lảo đảo bước lên đò qua sông.

Đò vừa cập bến bỗng ông Minh Nham nôn thốc nôn tháo, mắt hoa lên, chú Mạnh và chú Tường vội dìu về nhà.

Chiều hôm đó cả làng đều biết chuyện ba chú thợ xây đào được chiếc qua tài máu kì dị. Một vài người gan góc lắm cũng chỉ sang đặt chân lên bãi bồi một chút rồi về ngay. Họ bảo mùi tanh nồng đến lợm cổ họng như có hàng trăm xác người thối rữa bốc lên, không ai dám tới gần chiếc quan tài.

——–
Nghe truyện đầy đủ ở video dưới đây:


Bài trướcNgôi nhà ma ám
Bài tiếp theoThánh về luận tội

DUY LY

Tôi là Duy Ly.
Tôi có sở thích lang thang trên mạng và viết lãng đãng, vu vơ. Đề tài tôi yêu thích là viết những câu chuyện tâm linh, ma mị, kì bí. Tôi lập trang web này để chia sẻ những bài viết và truyện ngắn của mình.

Bài viết mới