Truyện thơ Lục Vân Tiên - sự tiếp biến ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo (P2)

Thảo luận trong 'Ngữ văn' bắt đầu bởi cohonnhien, 24/8/09.

Lượt xem: 282

  1. cohonnhien Thành viên

    Vậy mới biết, đi vào cuộc đời thực, Đồ Chiểu đã mở cái túi gấm qui phạm Nho giáo mà lấy hạt gieo trên cánh đồng màu mỡ của đạo lý nhân dân.



    Còn Sở Vương nhắc chữ Ngãi, thực ra chỉ để chỉnh sửa cái ngai vàng của mình sắp bị kẻ khác đẩy lung lay. Ông là đại diện cao nhất cho hình ảnh thánh nhân của Nho giáo, làm sao có thể nói khác khuôn vàng thước ngọc của nhà Nho? Có điều, sau khi lỡ dùng kẻ gian tà, ông biết kịp thời đứng về phía nhân dân, cầm cân nảy mực, thưởng phạt anh minh:



    “Vậy cũng đạo chúa ngãi tôi

    Thái sư ý muốn cướp ngôi chín trùng

    ........

    Trạng nguyên dẹp giặc đã bình

    Kiệu vàng tán bạc hiển vinh về nhà”



    Chuyện một ông vua phong kiến nhắc chữ Ngãi, điều ấy có gì đáng nói. Nhưng đây lại là một ông vua anh minh, đẹp như trong thế giới cổ tích ngày nào. Phải chăng, Nhân Nghĩa đã thoát ly những ràng buộc khắt khe, đểå thâm nhập vào mơ ước, hoài vọng của nhân dân về một xã hội công bằng thịnh trị.

    Chữ Nghĩa, trong truyện thơ, được đặt vào cửa miệng biết bao nhân vật. Không chỉ thế, nó còn biểu hiện gián tiếp qua hành vi quyết liệt của những con người khác. Đó là một trường hợp Hớn Minh. Chàng cũng là con nhà nho khái, đến huyện Loan Minh, thấy đứa cậy quyền giở trò đốn mạt, chàng liền ra tay trừng trị:



    “Tôi bèn nổi giận một khi

    Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò”



    Hớn Minh đâu phải không biết mình đang động đến con trai quan huyện. Chàng cũng đâu phải không biết cái giá cho hành động của mình là cảnh tù đày, bế đường khoa cử. Nhưng để sống theo cái Nghĩa, đi đúng lẽ phải ở đời, chàng đã quên mình, không một giây hối tiếc. Chàng chính là hình ảnh hào hiệp, khí khái của con người Nam Bộ, ghét khom lưng, bỏ giấc mộng lầu son, tìm trời xanh khoáng đãng.



    Trên đây là vài biểu hiện sống động cho sự tiếp biến tư tưởng Nho giáo trong tác phẩm. Như bao kẻ sĩ có lý tưởng, Nguyễn Đình Chiểu vẫn đi trên con đường mòn Nho giáo. Nhưng ông không bằng lòng với cái đá sỏi giáo lý trải đường, không hài lòng với cảnh quan khuôn mẫu phong kiến cỗi cằn. Ông vừa đi, vừa trồng trên đó thảm cây xanh rời rợi của truyền thống đạo lý dân tộc. Nhân nghĩa của Nho giáo, vì thế, hòa quyện vào nhân nghĩa của nhân dân. Nó trở thành thứ tài sản tinh thần của quần chúng nhân dân.



    *



    Tìm hiểu tư tưởng trong Lục Vân Tiên, chúng ta không thể bỏ qua màu sắc của Đạo giáo. Nguyễn Đình Chiểu, dẫu không trực tiếp phát ngôn nhưng vẫn động chạm nhiều đến Đạo. Đạo giáo vốn là một hệ tư tưởng lớn, chi phối đời sống tinh thần con người phương Đông, không kém gì Nho giáo.



    Đạo giáo có hai trường phái lớn: ẩn dật, tu tiên hoặc luyện pháp thuật, luyện thuốc trường sinh. Đọc Lục Vân Tiên, ta thấy hiện diện cả hai, nhưng cách nhìn của tác giả thế nào về Đạo, quả là điều phức tạp.

    Kiểu ẩn dật, tu tiên được nhà thơ liên tưởng khi tả cảnh hữu tình:



    “ Người hay lại gặp cảnh hay

    Khác nào tiên tử chơi rày Bồng Lai”



    Thế giới Bồng Lai luôn là ước mơ của những ai muốn tránh cõi đời ô trọc. Và biết bao người đã tự tu tiên, tạo cảnh Bồng Lai ngay trên cõi hồng trần. Nguyễn Đình Chiểu nhắc đến họ bằng xúc cảm say sưa, ngưỡng mộ. Họ là ai? Đó là một Nghiêm Lăng cày mây câu nguyệt, một Trần Đoàn gió trăng một túi công hầu chiêm bao, là bảy người hiền vui trong rừng trúc... Cuộc sống của họ là hình mẫu những con người chán cảnh đua chen trong vòng danh lợi. Nhân vật ông Quán, có lẽ, chính là một phần hình ảnh tác giả. Nhưng khúc ngâm của ông chỉ là một giọng trầm yếm thế trong tư tưởng nhà thơ. Con người nho sĩ dấn thân đã vượt lên, che chắn kiểu sống ẩn dật này. Dường như Đồ Chiểu chỉ đồng tình, ủng hộ, hơn là muốn sống như thế!



    Nhà thơ còn nhắc đến Đạo qua những nhân vật luyện tu pháp thuật. Tôn sư của Lục Vân Tiên được miêu tả như một vị tiên thánh. Ngài biết được cơ trời huyền bí, biết hậu vận học trò mình:



    “Gẫm trong số hệ khoa tràng còn xa

    Máy trời chẳng dám nói ra

    .....

    Rày con xuống chốn phong trần

    Thầy cho hai đạo phù thần đem theo”



    Nhờ hai đạo phù thần này mà Vân Tiên đã được Du thần, được Tiên ông cứu độ:

    “Nửa đêm nằm thấy ông tiên

    Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra”



    Hình ảnh vị thầy mang cốt cách đạo sĩ tinh thông pháp thuật, nhưng cũng chẳng khác một nhà sư Phật Quang ngày xưa truyền phép cho Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Còn Du thần, Tiên ông cũng đâu ngoài những ông bụt, ông tiên trong cổ tích, trong tín ngưỡng dân gian.

    Ở góc độ này, Đạo giáo được Đồ Chiểu hòa trộn vào quan niệm sống, vào thế giới tâm linh của nhân dân, thật tự nhiên, giản dị.



    Tuy nhiên, nhà thơ còn nhìn Đạo giáo qua góc cạnh khác: bọn bán thánh buôn thần, bọn tà ma quỷ quái lộng hành trong tác phẩm. Nhà thơ miêu tả chúng thật cặn kẽ. Chúng là một lũ thầy bói, thầy pháp gạt gẫm Tiểu đồng, lấy sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào mà mê hoặc người ta. Chúng là một lũ ô hợp, mượn danh cả Tề Thiên đại thánh, Vương mẫu, đến Phật tổ A Di, ... Chúng là hình ảnh bọn điêu ngoa trong xã hội, hay là sự phản chiếu dấu hiệu suy vi của Đạo bấy giờ?



    Có lẽ, điều dễ thấy nhất là Đồ Chiểu thật không thiện cảm với phái luyện tà ma, nói quàng xiên đồng cốt. Sự có mặt của chúng càng làm cho dân tình thêm lao đao, khốn khổ.



    Thêm một dạng quái tướng khác của chúng là hình ảnh Cốt Đột biến hô yêu tà. Nhân vật Vân Tiên đã trị chúng bằng kiểu tà ma của chúng:



    “ Vội vàng trở ngựa lui ra

    Truyền thoa máu chó đều thoa ngọn cờ

    Ba quân gươm giáo đều dơ

    Yêu ma xem thấy một giờ vỡ tan”



    Miêu tả bọn Cốt Đột này, nhà thơ như muốn liên tưởng đến kẻ thù xâm lược. Chúng có tà thuật như đạo sĩ, nhưng chẳng bao giờ là đạo sĩ. Chúng cùng một lũ với bọn Chằn tinh, Trăn tinh, Mãng xà tinh,... từng tác oai tác quái trong những khu rừng cổ tích. Ngày xưa, đạo lý nhân dân đã trừng trị chúng. Ngày nay, Đồ Chiểu cũng trừng trị chúng bằng đạo lý nhân dân. Càng xem, càng thấy tác giả Lục Vân Tiên luôn nhìn Đạo giáo từ quan điểm nhân dân, lấy lợi ích nhân dân mà rọi soi, phán xét.



    *



    Cuối cùng là vấn đề dấu ấn Phật giáo trong tác phẩm. Tư tưởng này tỏ ra mờ nhạt nhất. Có lẽ, nó xuất phát từ nhân sinh quan một nhà Nho. Ông là con người dấn thân, nhập thế, lấy công danh làm phương cách giúp đời. Ông đối lập với Phật giáo, chủ trương xuất thế, dẹp bỏ hỉ, nộ, ái, ố. Ông yêu, ghét đều quyết liệt, chiến đấu triệt để, truy đuổi cái ác tận cùng. Bởi vậy, Phật giáo không là điểm tựa tinh thần của ông. Tuy nhiên, mỗi khi nhắc đến Phật, ông có một lòng trân trọng, một niềm tin son sắt vào cái Thiện. Đó là câu chuyện chào đời của Vân Tiên, nói theo ngôn ngữ nhân quả nhà Phật:



    “Có người ở quận Đông Thành

    Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền”



    Đó còn là sự xuất hiện của Phật Quan âm, độ trì Kiều Nguyệt Nga khi nàng trầm mình tự vẫn:

    “Quan âm thương đấng thảo ngay

    Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa”

    Đó cũng là sự báo mộng của Quan âm, khuyên Lão bà cứu người mắc nạn:

    “Khi khuya nằm thấy Phật bà

    Người đà mách bảo nên già tới đây”



    Những cách nói, hình ảnh nhuốm màu Phật giáo vừa nêu, thực ra đâu phải là tư tưởng Phật giáo. Bởi trong tác phẩm, đâu chỉ có Phật Bà mới ra tay cứu nhân, độ thế. Trên kia, ta đã nhắc một Du thần, một Tiên ông. Ta còn biết có cả Sơn quân trên rừng, Giao long dưới nước. Hổ dữ từng xé xác người, Giao long từng gây sóng ác. Vậy mà lực lượng ấy lại tìm cứu người hiền. Có lẽ, tất cả nên được gọi chung là lực lượng siêu nhiên, phò trợ cho chính nghĩa. Về mặt này, Nguyễn Đình Chiểu đã học tập rất thành công truyện cổ tích thần kỳ.



    Xem lại suốt đường đời nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, ta không thấy cách lý giải như Nguyễn Du đã từng cắt nghĩa nỗi long đong, bất hạnh của nàng Kiều. Đôi vợ chồng trai anh hùng – gái thuyền quyên này gặp bất hạnh, không vì có tên trong Sổ đoạn trường; được hưởng hạnh phúc không vì gieo nhân gặt quả, mà đơn giản chỉ vì Ở hiền gặp lành, đúng theo đạo lý, đạo đức nhân dân. Cha mẹ Vân Tiên có con đức tài lỗi lạc cũng nhờ sống theo đạo lý đó. Rõ ràng, Nguyễn Đình Chiểu không đứng trên tinh thần Phật giáo để lý giải cuộc đời.



    Nhưng cũng phải thấy, ông đã mượn phần vỏ bọc bác ái, nhân – quả, sự mầu nhiệm của Phật giáo để diễn đạt đầy thuyết phục Tinh thần tương thân tương ái, Ở hiền gặp lành, Ác giả ác báo,... của quần chúng nhân dân.



    *



    Như vậy, trong suốt 2082 câu thơ, Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến đầy sáng tạo ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo, trên nền tảng đạo đức, đạo lý của nhân dân. Truyện thơ Lục Vân Tiên, chính vì thế, là một bài ca lớn về tư tưởng. Người đọc tìm thấy sự hợp lưu kỳ thú giữa các luồng tư tưởng ngay trên mảnh đất Nam Bộ trẻ trung, hoang sơ và phóng khoáng. Nho giáo đạo mạo nơi đâu chẳng biết, Đạo giáo tu tiên chốn nào chẳng hay, Phật giáo cầu siêu cõi nào chưa rõ, chỉ thấy rõ ràng, ba luồng sáng ấy hội tụ và soi rọi một điều trang trọng: tư tưởng, đạo đức, đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam là tốt đẹp và phù hợp với tư tưởng tiến bộ của nhân loại từ xưa. Về điểm này, quả thật, Nguyễn Đình Chiểu đã có công lao xuất sắc.



    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2001


    Võ Phúc Châu

    Xem thêm các bài viết cùng chuyên mục

    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này