Tắt Quảng Cáo [X]
Truyện Kiều | Bụi phấn - Diễn đàn dạy và học
Truyện Kiều

Thảo luận trong 'Ngữ văn' bắt đầu bởi cohonnhien, 3/8/09.

Lượt xem: 1,085

  1. cohonnhien Thành viên

    [​IMG]
    Ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết vào khoảng 1813 đến 1820 vì hiểu chữ “hành thế” trong câu: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm, Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện là sáng tác.


    Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết đến. Vả lại, “tận tín thư, bất như vô thư”, không nên quá tin vào sách, GS Đào Duy Anh viết “sách Liệt truyện, tuy là quốc sử, cũng không đủ cho ta tin” (xin xem sách của Đào Duy Anh: Khảo luận về Truyện Thuý Kiều, 1958).

    Bởi vì ở đó tên các sách Thuý Kiều truyện và Bắc hành thi tập chỉ là tên gọi tục; chính xác thì hai áng văn này phải được gọi là Đoạn trường tân thanh và Bắc hành tạp lục.

    Rất nhiều bằng cứ cho thấy Truyện Kiều được viết trước đó rất lâu.

    Chúng tôi sẽ dẫn những bằng cứ này ngược dòng thời gian lùi sâu vào quá khứ.

    Học giả Hoàng Xuân Hãn có nhắc đến Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào Kinh. Ông Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường …” thật ra có tên là Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm có trong tập Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập, ký hiệu A 2140.

    Mới đây, Hà Thị Tuệ Thành, tiếp tục công việc của ông Vũ Thế Khôi, tìm thấy bài này trong Lập trai Phạm Tiên sinh thi tập, kí hiệu A-400 và qua đó xác định được Phạm Quý Thích viết bài thơ này vào năm 1811 (xin xem bài tham luận tại Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 31/5 đến 2/6/2006). Truyện Kiều phải được viết trước đó.

    Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết: Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long (xin xem tạp chí Văn học, số 3-1997). PGS Ngô Đức Thọ thấy Đại Nam nhất thống chí viết Nguyễn Lượng bị chết năm 1807 đúng như Học giả Hoàng Xuân Hãn nói.

    Liên quan đến Nguyễn Lượng, gần đây Phan Thanh Sơn và Hà Thị Tuệ Thành nhận thấy trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ “bách chủng hoan ngu”. Chắc chắn ông không dám viết chữ CHủNG vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia long đã có lệnh cấm dùng chữ CHủNG, khi viết phải thay bằng chữ THựC (xin xem tạp chí Văn hóa Nghệ An số 71, 25/2/2006).

    Trương Chính nhận xét rằng trong Truyện Kiều có những câu “nghịch ngôn” như:

    “Bó thân về với triều đình / Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”

    “Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (xin xem tạp chí Văn học số 6 (12/1963).

    Những câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn.

    Ông Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản Liễu Văn Đường 1871 còn sót các chữ đáng lẽ phải kiêng dưới thời Nguyễn. “Câu 853: Tuồng chi là giống hôi tanh. Câu 1310: Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.

    Câu 2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Trong đó những chữ Chủng là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và chữ Lan là tên mẹ cả của vua Gia Long tức Huy Gia từ phi” (xin xem tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (56) 2000).

    Đến nay, hầu như ai cũng thừa nhận: Truyện Kiều được hoàn thành trước tiên; sau đó Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên, và cuối cùng Nguyễn Huy Hổ theo văn Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký. Tác phẩm sau cùng hoàn thành vào năm 1809.

    Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh rằng Hoa tiên, tác phẩm thứ hai được nhuận sắc trong khoảng mười năm cuối thế kỷ 18. Trong Hoa tiên có bài thơ chữ Hán trong đó có chữ CHủNG, tên của Gia Long (xin xem báo Văn nghệ, số 22).

    Đây chính là một lý do để ta tin rằng Truyện Kiều, tác phẩm thứ nhất phải được viết trước việc nhuận sắc Hoa tiên vài năm.

    Trước đây, nhiều người cho rằng nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sau đó viết Truyện Kiều. Điều này không đúng.

    Có nhiều giả thuyết về thời điểm Kim Vân Kiều truyện vào nước ta: học giả Hoàng Xuân Hãn đoán rằng có thể do Nguyễn Nễ (có tên là Đề và là anh ruột Nguyễn Du) hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ Nguyễn Du) cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792-1793 mang về.

    PGS Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang Hoa tiên và Kim Vân Kiều truyện từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện.

    Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc Hoa tiên, Nguyễn Du do lui tới Phúc Giang thư viện học tập, nấu sử sôi kinh sớm được đọc Kim Vân Kiều truyện để sáng tác Truyện Kiều.

    Song, điều này thì chắc chắn: ở truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng 1793-1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn”.

    Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến Kim Vân Kiều truyện. Chắc chắn, Nguyễn Du đã được tiếp cận với Kim Vân Kiều truyện không muộn hơn Vũ Trinh (theo Nguyễn Hoàng Sơn, báo Văn nghệ, số 35+36, 2/9/2004)...

    Những chứng cứ trên cho phép ta hình dung:

    Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã vào nước ta vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ 18. Nhờ đó Nguyễn Du sớm được đọc và theo đó mà viết Truyện Kiều. Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên vào mười năm cuối thế kỷ 18.

    Nguyễn Huy Hổ theo văn Kiều và văn Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký, hoàn thành vào năm 1809. Như thế Truyện Kiều xong trước việc nhuận sắc Hoa tiên nên phải được viết vào những năm cuối đời Lê đầu đời Tây Sơn, trùng với kết luận của GS Nguyễn Tài Cẩn rút ra được từ việc phát hiện chữ húy thời Lê - Trịnh trong một số bản Kiều Nôm.

    PGS Lê Thanh Lân
    Hà Nội, ngày 23/7/2006
    (Bài đăng trên Tiền Phong)

    Xem thêm các bài viết cùng chuyên mục

    hoangtungoc thích bài này.
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

  3. cohonnhien

    cohonnhien Thành viên

    Những nỗi tương tư của Thuý Kiều

    Tương tư là một trạng thái tình cảm đặc biệt trong đời sống tinh thần của con người mà xưa nay nhiều nhà thơ muốn lý giải trọn vẹn bằng cách cậy nhờ vào ưu thế đặc thù của thi ca và trái tim nhạy cảm của mình. Tâm tư con người mãi là một miền bí ẩn cho thơ ca mang khát vọng khám phá không cùng. Không ít nhà thơ đã phải thốt lên: “Tương tư không biết cái làm sao” (Tản Đà), “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân Diệu)...Ấy thế mà đại thi hào Nguyễn Du không chỉ diễn tả đúng tình, đúng điệu bao nhiêu u uẩn của nỗi tương tư mà còn tinh tế nhận thấy những biến chuyển của trạng thái tình cảm này trong suốt cuộc đời của một người con gái luôn ép trong tim bao kỷ niệm về mối tình đầu.



    Ai có đọc “Truyện Kiều” đều biết rằng đời Kiều triền miên trong hoài niệm, xót tiếc dĩ vãng, “một ngày nặng gánh tương tư một ngày”. Nhưng đặc biệt, có ba lần Nguyễn Du chú tâm soi rọi thế giới nội cảm phong phú của Thuý Kiều lúc tương tư, lối thể hiện mỗi lần một khác, bất ngờ và đa dạng như chính cuộc đời vậy. Nỗi tương tư được diễn tả cài xen cùng với bao nỗi niềm nhớ thương khác trong nội tâm Thuý Kiều. Không hẳn rằng bao giờ Nguyễn Du cũng đặc tả nỗi tương tư của Thuý Kiều trên bình diện chủ đạo trong dòng độc thoại nội tâm của nhân vật nhưng những ai xa cách người yêu đọc “Truyện Kiều” đều có thể dễ dàng lẩy được rất nhanh những câu thơ tương tư nói hộ trái tim mình.



    Lần tương tư đầu tiên của Thuý Kiều trong quãng đời lưu lạc là lần ở lầu Ngưng Bích. Nguyễn Du tả nỗi tương tư của Kiều trước, rồi sau mới tả nỗi nàng nhớ thương cha mẹ. Điều này không phải ngẫu nhiên. Lúc này, Kiều đã là người tròn đạo hiếu nhưng nàng lại là người vừa mang tiếng là kẻ phụ tình. Là nghệ sĩ của muôn nghìn tâm trạng, Nguyễn Du không thể không tả nỗi tương tư của Kiều trước tiên, để phù hợp với lô gích tâm lý nội tại của nhân vật:



    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống hãy rày trông mai chờ

    Bên trời góc bể bơ vơ

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?



    Mối tình Kim - Kiều rốt cuộc phải tan vỡ, nhưng cảnh tan vỡ này diễn ra khi tình chỉ mới đương độ sen ngó đào tơ, cho nên dư vị và dư âm của nó đọng lại trong đời Kiều hãy còn tinh khôi, mới mẻ. Biết thế để thấy rằng Nguyễn Du rất có lý, có tình khi cho Kiều sống trong tương tư mà như sống trong chiêm bao. Không gian cách trở bị xoá dần. Người yêu về gần kề, cùng uống chén thề nguyền đồng tâm, dưới vầng trăng làm chứng nhưng rốt cuộc, chiêm bao vẫn chỉ là...chiêm bao thôi. Cái nhìn đời nghiệt ngã của Nguyễn Du đã kéo nàng Kiều từ thế giới mộng tưởng về với đời thực. Câu thơ: “Bên trời góc bể bơ vơ” gợi lên sự giật mình, sực tỉnh của Thuý Kiều khi cảm nỗi cô lạnh, xót xa phận mình.



    Lần thứ hai Kiều sống trong tương tư là lần ở lầu xanh Tú Bà. Khác với lần trước, trong lần thứ hai này và cả lần thứ ba cũng vậy, Nguyễn Du tả nỗi lòng Kiều “Nhớ ơn chín chữ cao sâu” của cha mẹ trước, tả nỗi tương tư của Kiều sau. Đây lại là một lô gích tâm lý khác của nàng Kiều mà Nguyễn Du “theo sát” một cách nhất quán. Trước vấn đề lựa chọn mang tính đạo đức và mang tính hệ trọng, sinh tử của đời mình: “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”, Kiều đã chọn đạo hiếu làm đầu, dĩ nhiên, lô gích tâm lý của Kiều mà Nguyễn Du “phát hiện” là phù hợp với sự lựa chọn “hiếu nặng hơn tình” của Kiều.



    Thường thì tương tư nảy sinh trong con người mỗi khi không được thoả yêu. Nói cách khác, tương tư là sự khát yêu trong mộng. Kiều cũng khát yêu như thế khi thầm nhắn nhủ người yêu: “Xa xôi ai có thấu tình chăng ai”. Nhưng khát yêu tất sẽ dẫn đến chuyện đòi hỏi, mong mỏi được người yêu chia sẻ tình cảm. Mà tình yêu không đơn thuần là chuyện đòi hỏi, đó còn là chuyện quên mình, chuyện vị tha khi nàng thấu hiểu nỗi đau đớn của Kim Trọng và mong cầu Thuý Vân thay nàng đáp đền tấm tình Kim Trọng:



    Khi về hỏi liễu Chương Đài

    Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay

    Tình sâu mong trả nghĩa dày

    Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?



    Có mấy ai tương tư mà quên nỗi đau của mình để nghĩ đến nỗi đau của người khác như Thuý Kiều? Chữ “tình” đương nồng, nàng dành trọn cho lần tương tư đầu tiên: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”, còn với lần tương tư thứ hai, chữ “tình” mặn nồng phần nào đó đã chuyển hoá, đã ký thác vào chữ “nghĩa” sâu dày. Nhưng cho dẫu chữ “nghĩa” đã được Thuý Kiều cậy nhờ Thuý Vân đáp đền Kim Trọng, chữ “tình” vẫn cứ vò xé lòng Kiều: “Mối tình đòi đoạn vò tơ”. Thì ra, chữ “nghĩa” chỉ đắp đổi phần nào đó cho chữ “tình”, chứ không thể thay thế được chữ “tình”.



    Lần tương tư thứ ba của Thuý Kiều là lần nàng sống cô đơn, lúc Từ Hải đã giã biệt nàng để lên đường đánh đông dẹp bắc:



    Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng



    Lần này, nỗi tương tư của Thuý Kiều không trào dâng bồng bột như sóng xô bờ trong lần ở lầu Ngưng Bích, không khiến nàng đớn đau, khắc khoải xé lòng như lần ở lầu xanh Tú Bà mà lắng lại trong dòng mạch thâm trầm của ký ức. Tuy nhiên, con sóng lòng dẫu không bồng bột nữa nhưng vẫn quẫy động nơi mạch ngầm sâu thẳm của tâm hồn. Kim, Kiều đã phải lìa nhau như ngó sen bị ngắt làm đôi, ý nguyện đá vàng thành mộng ảo, nhưng nỗi tương tư của Thuý Kiều cứ xe quyện hai tâm hồn lại với nhau, như những sợi tơ cứ vương nối hai đầu chỗ ngắt của ngó sen. Dùng hình ảnh cụ thể để biểu đạt ý tưởng trừu tượng như Nguyễn Du đã làm thật thần tình. Cặp tiểu đối “dẫu lìa ngó ý”, “còn vương tơ lòng” với chữ “còn” phủ định chữ “dẫu” cho thấy mặc dù trong cuộc đời Kiều có sự giằng xé, mâu thuẫn giữa cõi thực (“lìa ngó ý”) và cõi mộng (“vương tơ lòng”), cõi thực buộc Kiều phải dứt tình với Kim Trọng, nhưng sức bền của mối tương tư chứng tỏ tình cảm đã “lội ngược dòng” để cho cõi mộng “phủ định” trở lại đối với cõi thực, đối với định mệnh nghiệt ngã, đối với tai ương chia rẽ mối tình Kim - Kiều. Và như trên đã nêu, chữ “nghĩa” không thay thế được chữ “tình”, nhưng ở lần tương tư thứ ba này, nàng Kiều tiếp tục nhắc đến chữ “nghĩa”. Cho dẫu chữ “nghĩa dày” đã bị bụi trần thời gian vùi lấp thành “chút nghĩa cũ càng”, trước sau, đấy vẫn là một chữ “nghĩa” kiên trinh và chính chữ “nghĩa” này của Kiều đã băng bó cho những đau thương nhân tình của Kim Trọng trong cõi thực phũ phàng. Thời gian không làm phai nổi chữ “tình”, thời gian cũng không thể làm giảm đi sức bền của chữ “nghĩa”. Thế nên, thay cho câu hỏi thảng thốt trong lần tương tư trước: “Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?”, lần này, nàng Kiều cảm thấy tự tin, yên lòng hơn ở chữ “nghĩa” mà nàng đã cậy nhờ Thuý Vân vun đắp: một chữ “nghĩa” có hậu, một chữ “nghĩa” đầy hứa hẹn (“may ra”) cho Kim Trọng về đường gia thất con cái:



    Duyên em dù nối chỉ hồng

    May ra khi đã tay bồng tay mang



    Qua những trang Truyện Kiều viết về nỗi tương tư của Kiều cho thấy, Nguyễn Du không đơn thuần diễn tả nỗi tương tư mà còn đi sâu phân tích tâm lý tương tư qua từng thời điểm khác nhau khiến cho người đọc hiểu được sự vận động tinh vi theo thời gian của trạng thái tình cảm phong phú này ở Thuý Kiều, giúp người đọc khám phá sâu hơn những miền bí ẩn của tâm tư con người. Cái tài của Nguyễn Du là phân tích nội tâm nhân vật nhưng không để lộ bàn tay phân tích làm người đọc tưởng như buồng tim con người tự để ngỏ đón ngọn gió thi ca Nguyễn Du chứ Nguyễn Du không hề mang tiếng tò mò, tuỳ tiện như Ê va, người ăn trái cấm vườn thiên đàng. Đọc Nguyễn Du, những ai đã trải nghiệm tương tư dù ít hay nhiều đều thấu hiểu sâu sắc nỗi hoài niệm của những người tha thiết với tình đầu: “Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm”.


    Nguyễn Hoàn

  4. cohonnhien

    cohonnhien Thành viên

    Để hiểu đúng câu Kiều về chữ “tâm” của Nguyễn Du

    Có một câu Kiều không dùng đến điển tích, không cần phải chú giải mà ai cũng dễ dàng hiểu được, đó là câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhưng không phải câu Kiều tưởng dễ dàng hiểu được này hoàn toàn được hiểu đúng thần thái thâm hậu của nó trong bất kỳ mọi nơi, mọi lúc, trong những dịp “lẩy Kiều”. Những người có “chữ tâm” đích thực trong đời này không phải là ít và hết thảy họ đều yêu mến, nâng niu câu Kiều nhân nghĩa lung linh này. Nhưng những người nhân danh “chữ tâm” lại cũng không phải là ít và đôi khi “chữ tâm” nhân danh này bị đem đối lập với chữ tài. Và như thế chữ tài lại bị dè bỉu, bị đố kỵ. Và như thế hai chữ “tâm, tài” tương đố. Ngày xưa, khi viết Truyện Kiều để chứng minh cho thuyết “tài mệnh tương đố” (“Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”), Nguyễn Du đã không ngờ đến cái tình cảnh “tâm, tài tương đố” này.



    Thực ra, đại thi hào Nguyễn Du chỉ đem chữ tài đối lập với chữ mệnh chứ chưa hề đem chữ tài đối lập với chữ tâm bao giờ cả. Không đối lập hai chữ “tâm-tài” nhưng lại bảo: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, “rắc rối” chữ nghĩa là ở chỗ đó. Chẳng lẽ Nguyễn Du viết đến 3254 câu thần bút để ca ngợi một trang tuyệt thế về Tài-Tình-Sắc như Thuý Kiều mà lại đi dè bỉu “chữ tài” chăng? Hoàn toàn không, chữ tài trong cách hiểu của Nguyễn Du cũng như của cổ nhân là đã bao hàm cả chữ tâm, chữ đức ở trong đó nữa. Chả thế mà cha ông ta đã từng quý trọng, nâng niu hai chữ “hiền tài” và chính người tài là bậc hiền nhân ở đời cho nên phải “chiêu hiền đãi sĩ” (trong câu thành ngữ này thì chữ hiền chính là chữ tài, hai chữ từ chỗ gắn kết nhau đã trở nên đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa). Thuý Kiều, nhân vật chính của Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã thác ngụ trọn vẹn tư tưởng nghệ thuật tuyệt diệu của mình, Thuý Kiều, về nhiều mặt lại chính là một phiên bản đắt giá về “cái tôi” của Nguyễn Du, nhân vật ấy có đủ hai chữ tâm, tài gắn kết nhau (thực ra, hai chữ tâm, tài trong hình tượng nghệ thuật Thuý Kiều là không thể chia cắt nhau được, có chia cắt là chia cắt tương đối theo lô gích hình thức thôi chứ không chia cắt được trong lô gích nghệ thuật và trong “phép biện chứng” của Nguyễn Du). Bảo chứng cho phẩm hạnh Thuý Kiều quả không có gì đáng giá hơn lời khen, lời đánh giá của các vị cao tăng. Sư Giác Duyên khen:



    “Người sao hiếu nghĩa đủ đường

    Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi”



    Sư Tam Hợp đạo cô khen cả hai chữ tài, chữ tình gắn kết nhau trong con người Thuý Kiều:



    “Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan

    Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

    Lại mang lấy một chữ tình

    Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”



    hoặc:



    “Lấy tình thâm trả nghĩa thâm

    Bán mình đã động hiếu tâm đến trời”



    Không riêng gì các vị sư đạo cao đức dày mà ngay cả đến những kẻ thù của Thuý Kiều, những kẻ từng đày đoạ, hành hạ Thuý Kiều đến độ vùi hoa, dập liễu không xót tay, những kẻ ấy không những không dè bỉu mà còn vô cùng nể trọng một Thuý Kiều tài tình quá đỗi. Hoạn Thư nhiều lần khen ngợi cái tài của Thuý Kiều giá đáng nghìn vàng:



    “Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương

    Ví chăng có số giàu sang

    Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!”



    hay:



    “Tiếc thay lưu lạc giang hồ

    Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!”



    Thúc ông (cha Thúc Sinh), người đã đem Thuý Kiều ra hành hạ, đánh đòn trước cửa công vì cái tội quyến rũ Thúc Sinh chơi bời hoa nguyệt, rút cuộc, chính Thúc ông cũng phải nể trọng cái tài nghiên bút “giá đáng Thịnh Đường” của Thuý Kiều:



    “Thương vì hạnh trọng vì tài

    Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba”



    Đáng chú ý, dưới con mắt dù khắt khe của chính mình, Thúc ông đã hiểu rằng trong con người Thuý Kiều, cái tài và cái đức hạnh gắn kết đi đôi với nhau.



    hế thì tại vì sao những người có được “chữ tài” (cũng tức là đã có đủ các chữ tâm, chữ đức nói chung) lại phải tu tâm, theo cách của Nguyễn Du đề xướng, trong khi chính những kẻ bất tài lại làm điều ác nữa chẳng hề phải tu tâm và cũng chẳng ai buộc được họ phải tu tâm cả? Khi viết nên câu Kiều nổi tiếng: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”, Nguyễn Du hoàn toàn không có ý cho rằng cái “tai” mà người tài phải gánh chịu do bởi họ sống mất nhân tâm hay thất đức mà rõ ràng, cái “tai” ấy chính là do kẻ xấu, kẻ ác, là do bầy Ưng Khuyển gây nên. Để tránh đi hoặc vượt qua cái “tai”, các nhà hiền triết ngày xưa đã đưa ra những cách thức, những phép hoá giải mầu nhiệm khác nhau. Do nhận thấy rằng, cái “tài”, từ trong...bản thể của nó ẩn chứa nguyên nhân tai hoạ, vì người tài khó tránh khỏi bị đố kỵ, ghen ghét, Lão Tử đưa ra một cách xử thế sâu kín, thâm hậu để tránh tai hoạ: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu, dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp”, nghĩa là người thông minh phải biết giữ mình bằng cách khiêm nhường, coi mình như người ngu, bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới phải biết giữ mình bằng cách làm như người nhát sợ. Cũng giống như Lão Tử, Nguyễn Du đã soi xét nguyên nhân gây nên tai hoạ cho người tài không chỉ nảy sinh từ phía xã hội, cụ thể là từ phía cái xấu, cái ác ("Những điều trông thấy mà đau đớn lòng") mà còn soi xét nguyên nhân này từ trong chính bản thể của cái tài, thành thử "Có tài mà cậy chi tài" (anh bị "tai" vì anh có tài, cũng như người phụ nữ đa đoan vì quá nhan sắc, "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"). Từ đó, Nguyễn Du, cũng giống như Lão Tử đã nghĩ ra cách “chế định” khôn khéo cho người tài bảo trọng thân mình. Nhưng Nguyễn Du không đưa ra cách xử thế “giấu mình” để tránh tai hoạ như Lão Tử nêu mà chọn cách khác, cách “tu tâm”. Cái cách “tu tâm” mà Nguyễn Du nêu ra (phê bình văn học trước đây thường cho rằng điều này thể hiện sự bất lực của Nguyễn Du trước thực tại xã hội cũ) chính là một cách để chọi lại với cái ác, cái xấu. Lưu ý rằng với cách “tu tâm” mà Nguyễn Du xướng lên này, những người “đạt đạo” sẽ không chỉ tự tu dưỡng được đạo đức cho riêng mình mà còn góp phần cảnh tỉnh, nhắc nhở, hoá giải và “cứu chuộc tội lỗi” cả cho những ai đã thiếu tài lại thất đức, chẳng chịu tu tâm. Quả đúng như Tế Hanh viết:



    “Một nhân vật như Thuý Kiều đã đi vào lịch sử .

    Chịu thay chúng ta bao áp bức trên đời”



    Chính vì thiên chức “chịu thay” này của người hiền sĩ mà Nguyễn Du đặt chữ tâm bằng ba chữ tài. Hoá ra kẻ sĩ tu dưỡng chữ tâm không phải cho riêng mình mà cả cho đời. Và như thế hai chữ tâm, tài không hề đối lập mà đều cùng lấp lánh như nhau trên mỗi trang Kiều.




    Nguyễn Hoàn

  5. lehoa012

    lehoa012 Điều hành viên Thành viên BQT

    Bút pháp của đại thi hào Nguyễn Du được coi là điêu luyện, tuyệt bút trong đó nghệ thuật tả cảnh tả tình được người đời sau khen ngợi "như máu chảy ở đầu ngọn bút" và "thấu nghìn đời". Xin giới thiệu với các em bài viết của nhà phê bình Trần Ngọc về Nghệ Thuật Tả Cảnh của Thi Hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều.


    Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một áng văn chương tuyệt tác trong lịch sử văn học nước ta. Truyện Kiều có giá trị về mọi mặt : tư tưởng , triết lý , luân lý , tâm lý và văn chương.

    Truyện Kiều vì thế đã trở thành quyển truyện thơ phổ thông nhất nước ta: từ các bậc cao sang quyền quý , trí thức khoa bảng , văn nhân thi sĩ , cho đến những người bình dân ít học , ai cũng biết đến truyện Kiều , thích đọc truyện Kiều , ngâm Kiều và thậm chí bói Kiều.

    Giá trị tuyệt hảo của truyện Kiều là một điều khẳng định mà trong đó giá trị văn chương lại giữ một địa vị rất cao. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được bàn đến nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều ..

    Nghệ thuật tả cảnh của ï Nguyễn Du nói chung rất đa dạng , tài tình và phong phú. Chính Nghệ thuật tả cảnh này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều.

    Lối tả cảnh diễm tình .

    Đây là lối tả cảnh mang tính cách chủ quan , man mác khắp trong truyện Kiều . Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật chính hoặc phụ ẩn chứa trong đó.Nói một cách khác , Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luôn đem cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật. Điều này khiến cho cảnh vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào đó. Chính Nguyễn Du đã tự thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua hai câu thơ:

    “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

    Trong khuynh hướng này , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn các thi nhân khác , kể cả những thi sĩ Tây Phương , vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngụ tình . Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều , nghĩa là chỉ tìm những cảnh vật nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào , còn ï Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh , tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người , giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai..

    Ví dụ như khi chị em Kiều đi lễ Thanh Minh về , tới bên chiếc cầu bắc ngang một dòng sông nhỏ gần mả Đạm Tiên , thì cả người lẫn cảnh đếu cảm thấy nao nao tấc dạ trong buổi chiều tà :

    “Nao nao dòng nước uốn quanh
    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    “Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của dòng nước trôi dưới chân cầu.

    Hình ảnh một mảnh trăng khuyết soi nghiêng nhìn Kim Trọng khi chàng nửa tỉnh nửa mê, chập chờn với hình ảnh Kiều sau lần gặp gỡ đầu tiên:

    ‘Chênh chênh bóng Nguyệt xế mành
    Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu”

    Chàng biếng nhác cả việc sách đèn , để phòng đọc sách lạnh tanh với tiếng gió quạnh hiu phập phồng qua màn cửa :
    Buồng văn hơi giá như đồng
    Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan
    Mành Tương phất phất gió đàn
    Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

    Rồi những giờ phút thề ước ba sinh đã qua, khi phải tạm xa nhau thì dòng sông kia bỗng sao trở thành kẻ khắt khe để chia rẽ duyên tình:

    Sông Tương một giải nông sờ
    Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

    Một đoạn tả cảnh khác , tình người ẩn sâu trong cảnh vật . Đó là cảnh Kim Trọng sau khi hộ tang cha , về tìm lại Kiều nơi vườn Lãm Thúy, nhưng người xưa nay còn thấy đâu , chỉ còn cảnh vườn hoang cỏ dại lạnh lùng dưới ánh trăng.

    Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
    Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời

    Lần thứ hai , Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì cảnh nhà bây giờ thật sa sút , sân ngoài cỏ hoang mocï dại, ướt dầm dưới cơn mưa , tiêu điều như nỗi buồn tênh trong lòng chàng:

    Một sân đất cỏ dầm mưa
    Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường

    Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích , nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm , với những cánh buồm xa xa lại tưởng tới thân phận bọt bèo không định hướng của mình :

    Buồn trông cửa biển chiều hôm
    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    Buồn trông ngọn nước mới sa,
    Hoa trôi man mác biết là về đâu?

    Lúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri , thì lòng nàng cũng chẳng thực sự là vui mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:

    Gió chiều như gợi cơn sầu
    Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu

    Và khi theo Sở Khanh để trốn Tú Bà , thì cảnh một đêm thu có trăng sáng , nhưng cũng lạnh lùng cũng chẳng khác chi tâm sự rối bời của Kiều :

    Lối mòn cỏ nhạt màu sương
    Lòng quê đi một bước đường một đau

    Lúc thất vọng não nề , muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần, tâm sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn , chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:

    Mảnh trăng đã gác non đoài
    Một mình luống những đứng ngồi chưa xong

    Lối tả chân.
    Ngoài lối tả cảnh diễm ï tình, Nguyễn Du còn điểm trang cho truyện Kiều bằng nhiều bức tranh tả chân, tả rất thực, và thuần túy là những họa xinh đẹp, không ngụ tình. Những bức tranh bằng thơ có khi tươi tắn, có khi sầu mộng được viết theo lối văn tinh xảo .Chỉ cần một vài nét phác họa với những điểm chính hiện hữu .

    Đây là cảnh một túp lều tranh bên sông vắng lúc hoàng hôn , vừa giản dị , mộc mạc nhưng cũng rất nên thơ:

    Đánh tranh chụm nóc thảo đường
    Một gian nước biếc mây vàng chia đôi.

    Hoặc chỉ một vài nét chấm phá mà người đọc đã hình dung ra cảnh một mái tranh nghèo rách nát tơi tả theo tháng ngày:

    Nhà tranh vách đất tả tơi
    Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa

    Hoặc bức tranh sơn thủy của một khung trời chiều long lanh phản chiếu trên mặt sông êm ả :

    Long lanh đáy nước in trời
    Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng

    Hay bóng liễu rủ bên cầu và thướt tha soi bóng trên sông tạo nên một khung cảnh đẹp mộng thơ :

    Dưới cầu nước chảy trong veo
    Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

    Khi chị em kiều đi viếng mộ Đạm Tiên, thì cảnh vật cũng theo đó đìu hiu ảm đạm : cơn gió đìu hiu lay động một vài cành lau trên vùng cỏ mờ nhạt theo sương chiều :

    Một vùng cỏ áy bóng tà
    Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.

    Cảnh thanh tịnh của ngôi chùa Giác Duyên nơi Kiều đã được cứu vớt , mà đường tới thì quanh co theo giải sông ,có khu rừng lau như cách biệt với cuộc sống rộn rã bên ngoài :

    Quanh co theo giải giang tân
    Khỏi rừng lau đã tới sân Phật Đường

    Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du tuyệt vời đến nỗi Giáo sư Nghiêm Toản đã có nhận định như sau: “trong Đoạn Trường tân thanh, luôn luôn có những bức tranh nho nhỏ như những hạt kim cương rải rác đính trên một tấm thêu nhung” ( Việt Nam văn Học Sử Trích Yếu)

    Hãy xem cảnh bóng trăng chênh chếch soi mình trên sóng nước , đẹp lãng đãng như nỗi tưởng nhớ miên man của Kiều về Kim Trọng sau buổi gặp gỡ lần đầu. Chỉ vài nét đon sơ giữa trăng , nước và sân nhà đã đủ diễn tả một khung cảnh tuyệt nhã đẹp như một bức tranh :

    Gương nga chênh chếch dòm song
    Vàng gieo ngấn nước , cây lồng bóng sân



    Lối tả cảnh tượng trưng:

    Nguyễn Du cũng rất nhiều khi phô diễn lối tả cảnh tượng trưng, nghĩa là chỉ dùng một vài nét chấm phá, thành một nghệ thuật đã đạt đến mức uyển chuyển và tinh tế .

    Hãy nghe hai câu thơ :

    Vi lô san sát hơi may
    Một trời thu để riêng ai lạnh lùng

    Đó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh. Lối tả cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ không hề nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng những vần thơ . Mãi đến hơn một thế kỷ sau ,tức vào thế kỷ 19 , lối tả cảnh tượng trưng nay mới phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là “Symbolists”. Đó là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi.

    Nên để ý nghệ thuật của Nguyễn Du là mang cái gì rộng lớn mênh mông , để rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé ( luận giải của Giáo Sư Hà Như Chi trong Việt Nam Thi Văn Giảng Luận ) . Trong hai câu thơ trên, “một trời thu”mang một ý niệm không gian rộng lớn bao la , trong khi bốn chữ “ riêng ai một mình”lại chỉ một phạm vi nhỏ bé , một tâm tình đơn lẻ cá nhân.

    Một vài câu thơ khác cũng mang cùng một khuynh hướng như :

    Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
    Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình

    Đó là cảnh mặt trời chiều bâng khuâng nghiêng mình soi bóng trước mái hiên nhà để rồi chuyển sang , ẩn vào tâm tư riêng của một cõi lòng Kiều cô đơn. ( Cần chú ý thêm là cách dùng điệp ngữ một cách tài tình khéo léo của Nguyễn Du , với chữ “ nghiêng và “riêng”được lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn cảm thấy hay .)

    Có khi Nguyễn Du lại dùng một lối tả cảnh tượng trưng ngược lại , nghĩa là đem tấc lòng nhỏ bé của con người cho tỏa rộng bay hòa vào cái rộng lớn của trời đất.

    Hãy xem cảnh Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau:

    Người lên ngựa kẻ chia bào
    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

    Đó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người , nhưng đã làm ảm đạm cả một vùng cảnh vật chung quanh.

    Hay cảnh Kiều thất vọng cuộc đời , mở cửa phòng nhỏ bé để gieo mình xuống dòng bao la của sông Tiền Đường :

    Cửa bồng vội mở rèm châu
    Trời cao sông rộng một màu bao la.

    Nói về nghệ thuật tả cảnh tượng trưng này, giáo sư Dương Quảng Hàm đã viết: “ tả cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt.”

    Lối tả cảnh dùng màu sắc.

    Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc như bức tranh của một người họa sĩ. Trước tiên phải là ánh sáng , một yếu tố cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự c pha chế sao cho làm nổi được cảnh chính và cảnh phụ .

    Hãy xem một cảnh Xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy màu sắc của Nguyễn Du:

    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la, nổi những bông hoa lê trắng tinh . Chỉ có hai màu xanh và trắng như nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Kiều đi dự lễ Thanh Minh . Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “ cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông hoa” . Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được .

    Cũng một cảnh cỏ xanh nữa , nhưng lần này là màu xanh thẫm soi mình cạnh màu nước trong:

    Một vùng cỏ mọc xanh rì
    Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.

    Hay cảnh lung linh ánh nước soi chiếu mây vàng của hoàng hôn:

    Long lanh đáy nước in trời
    Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng.

    Một cảnh khác mà màu sắc lại buồn ảm đạm , chỉ có màu nâu của đất , màu xanh vàng của cỏ úa chen chân bên cái thấp lè tè của gò đất mả Đạm Tiên:

    Sè sè nắm đất bên đường
    Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

    Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt là của hoàng hôn ,của cây cỏ , của trăng và của nước là những màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm , cũng chỉ vì truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui.

    Giáo sư Hà Như Chi dẵ nhận định về lối dùng màu sắc của cụ Nguyễn Du như sau :” Nguyễn Du khi tả ánh sáng không những chỉ trực tiếp mô tả ánh sáng ấy , mà lại còn tả một cách gián tiếp , cho ta thấy sự phản chiếu trên ngọn cỏ , lá cây mặt nước,đỉnh núi ..”(Việt NamThiVăn Giảng Luận)

    Đúng như thế, hãy xem cảnh khu vườn với hoa lựu nở đỏ như ánh lửa lập lòe trong mùa hạ , khi mùa nắng đã được đón chào bởi tiếng quyên ca lúc khởi một đêm trăng :

    Dưới trăng quyên đã gọi hè
    Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông

    Lối dùng chữ trang nhã và bình dân trong tả cảnh.

    Nguyễn Du là một thi nhân thuộc dòng dõi quan quyền phú quý , nhưng gặp phải cảnh loạn lạc đổi chúa thay ngôi giữa nhà Lê và nhà Nguyễn , đã phải về quê cũ ở Huyện Tiên Điền để ẩn cư. Cụ đã trải qua những ngày sống trong phú quý và những ngày sống thanh đạm nơi thôn dã , nên trong tâm hồn đã thu nhập được hai cảnh sống . Cụ đã hài hòa kết hợp được hai cảnh sống đó , nên trong lãnh vực văn chương tả cảnh trong truyện Kiều , cụ có khi dùng những chữ thật trang nhã quý phái , có khi lại dùng những chữ thật giản dị bình dân.

    Những chữ dùng trang nhã quý phái đă được kể nhiều qua những câu thơ ở trên, thiết tưởng chẳng cần lậïp lại. Bây giờ chúng ta hãy xem những chữ rất bình dân mà Nguyễn Du dùng trong lúc tả cảnh.
    Ví dụ chị em Kiều du Xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn , Nguyễn Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt trời chiều:

    Tà tà bóng ngả về tây
    Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

    Thế rồi gặp cảnh mả Đạm Tiên đắp vội , chỉ còn một nắm đất thấp “ sè sè “ bên đường, chen lẫn vài ngọn cỏ úa :

    Sè sè nắm đấ bên đường
    Rầu rầu ngon cỏ nửa vàng nửa xanh.

    Rồi ngọn gió gọi hồn “ ào ào “ thổi tới như muốn nhắn nhủ điều chi :

    Ào ào đổ lộc rung cây
    Ở trong dường có hương bay ít nhiều.

    Hay cảnh vườn Thúy khi Kim Trọng trở lại tìm Kiều mà không thấy nàng , chỉ thấy cánh én xập xè bay liệng trên mặt đất hoang phủ đầy rêu phong:

    Xập xè én liệng lầu không
    Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy .

    Và đêm xuống ánh trăng soi “ quạnh quẽ “ lẻ loi nơi vườn vắng, tri âm chỉ còn là những cọng cỏ dại mọc lưa thưa:

    Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
    Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời

    Chính vì Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và bình dân một cách tài tình nên truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng trong xã hội đón nhận thưởng thức một cách nhiệt thành. Những chữ mộc mạc bình dân đã chứng tỏ một bước tiến của nền văn chương Việt Nam trên con đường xa dần ảnh hưởng của chữ Hán chữ nôm mà ï Nguyễn Du đã tiên phong dấn bước.

    6. Lối dùng điển tích trong tả cảnh .

    Nguyễn Du là một thi hào dùng rất nhiều điển tích trong tác phẩm của mình. Nhưng khác với những nhà thơ khác , thường dùng điển tích chỉ vì chưa tìm được chữ quốc ngữ thích đáng để thay thế . Nguyễn Du thì khác , cụ đã dùng điển tích để “ làm câu thơ thêm có ý vị đậm đà mà vẫn lưu loát tự nhiên, không cầu kỳ thắc mắc “như Giáo sư Hà Như Chi đã nhận định. (Việt Nam Thi Văn Giảng Luận) Nhưng phải nói, những điển tích mà Nguyễn Du dùng chính đã làm giàu cho nền văn chương quốc ngữ Việt Nam , thậm chí nhiều điển tích đã trở thành ngôn ngữ hoàn toàn Việt Nam , mà nói tới ai ai cũng hiểu ý nghĩa đại cương của nó . Chẳng hạn những chữ Biển dâu, Gót sen, Sư tử Hà Đông, kết cỏ ngậm vành , mây mưa, ba sinh, chắp cánh liền cành ..v...v .

    Những điển tích thường nằm nhiều trong những đoạn thơ tả người, tả tình , tả tâm trạng , tả tiếng đàn , trải dài trong suốt truyện Kiều .

    Riêng trong lãnh vực tả cảnh là chủ điểm của bài này, chúng ta không gặp nhiều điển tích cho lắm . Nhưng cũng xin đan cử vài ví dụ.

    Chẳng hạn như đoạn tả cảnh Kiều nhớ Kim Trọng bên dòng nước trong xanh phản chiếu ánh trăng ngà :

    “ Gương nga chênh chếch dòm song
    Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân ”

    “Gương Nga”chỉ mặt trăng , do tích Hằng Nga , mỹ nhân , vợ của Hậu Nghệ , đánh cắp và uống hết thuốc tiên mà Hậu Nghệ xin được của bà Tây Vương Mẫu . Hằng Nga hóa tiên và bay lên mặt trăng . Từ đó người ta thường gọi mặt trăng là Gương Nga hay chị Hằng , chị Nguyệt .

    Hai câu thơ khác :

    Sông Tần một giải xanh xanh
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan

    Sông Tần lấy từ câu “ dao vọng Tần Xuyên, can trường đoạn tuyệt” ý nói ở xa nhìn nước sông Tần như nát gan xé ruột . Dương Quan là tên một cửa ải xa ở phía tây nam tỉnh Cam Túc. Cả hai điển tích trên đều mang ý nghĩa một sự nhớ nhung khi xa cách. Đó là lúc Thúy Kiều tiễn đưa Thúc Sinh trở về thăm vợ cũ là Hoạn Thư.

    Hay:

    Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

    Chữ Khóa Xuân lấy từ điển tích Châu Du bị gió đông cản việc phóng hỏa đốt trại Xích Bích , nên Đài Đồng Tước không bị cháy , nhưng chính vì đó mà đã khóa chặt tuổi xuân hai chị em tên Đại Kiều và Tiểu Kiều ,một người vợ Tôn Sách và một người vợ Châu Du..

    Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
    Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều .

    Hai câu thơ trên ngụ ý tả cảnh lầu Ngưng Bích như là nơi đã khóa kín tuổi xuân của Thúy Kiều.

    Một đoạn khác khi Kim Trong trở về vườn Thúy để tìm Kiều , nhưng nàng đã không còn ở đó, chỉ còn ngàn cánh hoa đào hồng thắm đang cười như tiễn biệt gió đông:

    Trước sau nào thấy bóng người
    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

    Hai câu này lấy từ điển tích nho sinh Thôi Hộ đời nhà Đường , trở về Đào Hoa Trang để thăm người con gái năm xưa đã dâng cho chàng nước uống trong lúc dự hội Đạp Thanh. Nhưng người đẹp đã vắng bóng dù cảnh cũ vẫn còn đấy, chìm ngập trong ngàn cánh hoa đào phe phẩy dưới nắng xuân . Thôi Hộ đã viêt hai câu thơ nguyên văn văn :

    Nhan diện bất tri hà xứ khứ ,
    Đào hoa y cựu tiếu đông phong

    Kết luận .

    Tóm lại , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật là muôn hình vạn trạng . Nghệ thuật ấy chẳng khác gì nghệ thuật vẽ một bức tranh thủy mạc , nhiều khi chỉ một mảnh trời , một ánh trăng, một cành liễu , một dòng nước hay một áng mây hoàng hôn ..v..vv . Chỉ thế thôi , nhưng chữ dùng về màu sắc và cách sắp đặt cảnh gần xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc , như để cùng chung hòa vào cảnh vật. Một điều không thể chối cãi được là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã ban cho cảnh thiên nhiên một “hồn người” khiến cho không ai đọc thơ tả cảnh của Nguyễn Du mà không khỏi bồi hồi tấc dạ.. Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu để chỉ riêng một lãnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ truyện Kiều không hổ thẹn để xứng đáng là một tác phẩm văn chương quốc ngữ hay nhất trong kho tàng văn học của nước ta.

    Hãy nghe học giả Đào Duy Anh nhận xét về truyện Kiều “ Chúng ta sở dĩ yêu chuộng truyện Kiều không phải nó có thể làm quyển sách luân lý cho đời , mà chỉ vì trong sách ấy, Nguyễn Du đã dùng những lời văn kỳ diệu để rung động tâm hồn ta...” ( Khảo Luận về Kim Vân Kiều)..


    Thật đúng như vậy , những rung động trong tâm hồn được khơi dậy khi đọc truyện Kiều hẳn là một điều không ai trong chúng ta có thể phủ nhận bởi vì chúng ta đã từng có những cảm giác này . Truyện Kiều vì thế đã sống mãi với thời gian và không gian , từ thế hệ này qua thế hệ khác , lúc nào cũng được mọi người trân trọng và yêu mến .

    Sưu tầm

  6. bu0n_c4_+)0j

    bu0n_c4_+)0j Thành viên

    Nhân vật trong Truyện Kiều: Đậm và Nhạt

    Truyện Kiều có hai loại người, Đậm và Nhạt. Một cách hoàn toàn chủ quan, tôi hiểu nhân vật Đậm là nhân vật được khắc hoạ có vóc có vạc; từ hình hài diện mạo đến tính cách, hành động và số phận của họ đều là những đường nét nổi bật lên trên nền hoàn cảnh chung bình thường, và bởi thế mà họ tạo nên ấn tượng đặc biệt. Còn nhân vật Nhạt thì ngược lại, họ dễ bị chìm đi, bị tan ra trong những đường nét nhạt nhòa, phôi pha của những tính cách nhạt nhẽo và những số phận bình thường đến tầm thường.
    (Hoài Nam - Báo Người đại biểu nhân dân)


    Thế giới nhân vật trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du vốn đã được mổ xẻ suốt gần hai thế kỷ nay, bằng đủ các công cụ phẫu tích sẵn có của nhân gian.

    Đơn giản thì người ta nhìn thấy ở đó sự đối lập giữa người tốt và kẻ xấu. Phức tạp hơn, thì ở đó là mối quan hệ giai cấp giữa đại phong kiến – phong kiến chuyển hoá thành tư sản – nông dân có tinh thần cách mạng! Và ở một phía khác, lại là sự nhùng nhằng giữa những mẫu người thuộc khuôn khổ đạo đức Nho giáo với những mẫu người phi Nho, phản Nho.

    Tôi thì muốn đề xuất cách phân loại của riêng mình về cái thế giới nhân vật bàn mãi không hết chuyện này: Truyện Kiều có hai loại người, Đậm và Nhạt. Một cách hoàn toàn chủ quan, tôi hiểu nhân vật Đậm là nhân vật được khắc hoạ có vóc có vạc; từ hình hài diện mạo đến tính cách, hành động và số phận của họ đều là những đường nét nổi bật lên trên nền hoàn cảnh chung bình thường, và bởi thế mà họ tạo nên ấn tượng đặc biệt.

    Còn nhân vật Nhạt thì ngược lại, họ dễ bị chìm đi, bị tan ra trong những đường nét nhạt nhòa, phôi pha của những tính cách nhạt nhẽo và những số phận bình thường đến tầm thường. Tiện hơn cả, tôi sẽ xem xét hai cặp nhân vật Đậm – Nhạt sau: Thúy Kiều/ Thúy Vân và Kim Trọng/ Từ Hải. Những nhân vật còn lại thì bỏ qua, vì họ chưa đủ đậm hoặc chưa đủ nhạt để phải nói đến.

    Thúy Kiều – Thúy Vân
    a) Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều đương nhiên là đệ nhất Đậm nhân vật. Nét đậm của nàng thực ra không phải nằm ở Tài và Sắc (Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai) mà là ở Tính và Tình.
    [​IMG]
    Có thể nói, ở phương diện này bao giờ Kiều cũng bộc lộ ra như một con người của những sự tới hạn, đôi khi rất trái ngược nhau, và không khi nào nàng chịu ổn định trong một trạng thái, một cảm xúc trung bình cộng nửa vời. Chỉ vừa mới nghe câu chuyện về cuộc đời của kỹ nữ Đạm Tiên, nàng đã “đầm đầm châu sa”:

    Đau đớn thay phận đàn bà!
    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
    Phũ phàng chi bấy hoá công!
    Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
    Sống làm vợ khắp người ta
    Khéo thay thác xuống làm ma không chồng!
    Nào người phượng chạ loan chung
    Nào người tiếc lục tham hồng là ai?

    Không phải là sự sẻ chia theo lối “đàn bà với nhau” thông thường nữa rồi. Cũng không phải là biểu hiện “thương vay khóc mướn” của một tâm hồn nhạy cảm. Đọc kỹ, ta sẽ thấy những lời than trách trên chính là những lời tự thán.

    Bằng một tiên cảm kỳ lạ, Kiều đã nhìn thấy tương lai của mình qua số phận của Đạm Tiên. Và nếu ta nhớ rằng cho đến lúc này Kiều mới chỉ là một cô nương “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê/ Êm đềm trướng rủ màn che/ Tường đông ong bướm đi về mặc ai” – tức là chưa có mấy chút trải nghiệm trường đời – thì mới thấy sự tiên cảm kia đã hé lộ một cái gì đó vượt ngưỡng.

    Thế nhưng, cũng chính người con gái này khi đã yêu thì vô cùng táo bạo, quyết liệt, bùng nổ như một thùng thuốc súng. Sau hai lần gặp Kim Trọng, đến lần thứ ba thì Kiều đã “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để được gần người mình yêu. Và rồi, ngay ở lần gặp thứ ba này nàng đã cùng chàng Kim:

    Tiên thề cùng thảo một chương
    Tóc mây một món, dao vàng chia đôi
    Vừng trăng vằng vặc giữa trời
    Đinh ninh hai miệng một lời song song
    Tóc tơ căn vặn tấc lòng
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

    Đặt trong bối cảnh xã hội “Gia Tĩnh triều Minh” thì không ai có thể hình dung được một tiểu thư khuê các như Kiều lại liều lĩnh đến thế.

    Hình như mọi điều răn mà những cô thiếu nữ con nhà đều thuộc nằm lòng đã bị nàng quên sạch để chạy theo tiếng gọi của tình yêu đầu đời, không e lệ, không “bắc bậc làm cao” một chút cho “phải phép”. Trao trọn con tim cho người tình chỉ sau ba lần gặp gỡ, tôi đoan chắc rằng cái tốc độ và cường độ tình yêu của Kiều không hề thua sút nếu đem so với tình yêu của nam nữ thời internet toàn cầu!


    Trong Truyện Kiều đối chiếu, tác giả Phạm Đan Quế đã từng làm một thống kê về những cảnh ngộ lặp lại trong đời Kiều: hai lần vào lầu xanh, hai lần đi ở, hai lần đi trốn, ba lần định tự tử, ba lần đi tu, ba lần chia tay với người tình, bốn lần bị đòn, năm lần đánh đàn, bảy lần nhớ nhà, bảy lần lấy chồng... Quả là một cuộc đời trầm luân, buồn nhiều vui ít. Mà cái buồn của Kiều thì hiếm khi không đạt tới đỉnh điểm của cảm xúc.

    Hãy thử ví dụ bằng việc Kiều đánh đàn. Trong năm lần đánh đàn thì lần Kiều đánh đàn cho vợ chồng Hoạn Thư – Thúc Sinh, và lần Kiều đánh đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe là oái oăm nhất. Lần một là hoạt cảnh vợ cả bắt vợ hai phải hầu đàn cho ông chồng trong tư cách một nô tỳ, và không ai dám lên tiếng cải chính, thì:

    Bốn dây như khóc như than
    Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng
    Cùng trong một tiếng tơ đồng
    Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm

    Lần thứ hai là lần Kiều phải mua vui cho kẻ vừa mới đây thôi đã bức tử trượng phu của mình, thì:

    Một cung gió thảm mưa sầu
    Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay

    Tóm lại, nếu có thể hình dung về Kiều theo con mắt của người làm nghệ thuật tạo hình, thì đây là nhân vật được tạo nên bằng những đường nét gọn, sắc, dứt khoát, những màu sắc nóng, chứa nhiều năng lượng gây nổ.


    b) Còn Thúy Vân thì đó là một nhân cách đối lập hoàn toàn. Một đệ nhất Nhạt nhân vật trong Truyện Kiều. Vũ Hạnh, ở tập Đọc lại Truyện Kiều, có nói đến việc Thúy Vân “không có mắt”! Đúng thế thật:

    Vân xem trang trọng khác vời
    Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
    Hoa cười ngọc thốt đoan trang
    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

    Quả thực là không có một chữ nào nói đến mắt Thúy Vân. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Không có mắt tức là tâm hồn rỗng tuếch. Một đời sống tinh thần nghèo nàn, ba phải, được chăng hay chớ, dễ thích ứng với hoàn cảnh bởi cái thói vô tâm vô tính, không hình thành nổi một bản ngã cho tử tế. Chả thế mà khi gia đình gặp cơn tai biến, chị gái phải bán mình chuộc cha, thì Thúy Vân vẫn điềm nhiên... ngon giấc:

    Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
    Bên đèn ghé đến ân cần hỏi han:
    Cơ trời dâu bể đa đoan
    Một nhà riêng để chị oan một mình
    Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh
    Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?

    Tôi cho rằng người ta sẽ không thể tìm được một câu hỏi nào vô duyên hơn câu hỏi này của Thúy Vân. Chỉ còn đêm nay thôi Kiều được ở dưới mái nhà của cha mẹ, đến ngày mai nàng đã phải rời khỏi để đi theo kẻ bỏ tiền mua mình. Một tương lai bất định, mờ mịt họa phúc đang mở ra trước mắt người con gái. Chỉ cần có thế thôi cũng đủ biến đêm nay thành một đêm trắng! Ai cũng có thể hiểu được như vậy, nhưng riêng Vân thì không. Nói một câu an ủi nhạt nhẽo, nàng coi như đã hoàn thành nghĩa vụ với chị mình.

    Có lẽ vì thế mà khi nhờ cậy Vân thay mình gá nghĩa với Kim Trọng, con người đầy nhạy cảm như Kiều đã ý thức được rằng đây là việc “cực chẳng đã”, rằng Vân hoàn toàn không xứng đáng với bậc danh sĩ phong lưu nọ. Không ngẫu nhiên mà ở đoạn trao duyên, Kiều nói chuyện với Vân mà cứ tựa như độc thoại, và càng lúc đối tượng lời nói mà nàng hướng tới càng không phải là cô em gái đang ở trước mặt.

  7. bu0n_c4_+)0j

    bu0n_c4_+)0j Thành viên

    Trăm nghìn gửi lạy tình quân

    Trăm nghìn gửi lạy tình quân
    Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
    Phận sao phận bạc như vôi
    Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
    Ôi Kim lang, hỡi Kim lang
    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

    Hiển nhiên, trong diễn ngôn nhằm vào Thúy Vân thì ba câu lục bát trên đã bị lạc hướng. Đó là tiếng kêu đứt ruột mà Kiều gửi tới chàng Kim, và ở khoảnh khắc tột cùng đau thương đó, Vân đã biến mất trước mắt nàng. Đơn giản, vì Vân không phải người nàng có thể chia sẻ được.


    Suốt mười lăm năm Kiều luân lạc tận khổ, Nguyễn Du đã không để cho Vân xuất hiện lấy một lần, than một tiếng hoặc nhỏ một giọt nước mắt cho chị (cũng như trước đó ông đã không để cho nàng có một chút phản ứng nào trong cảnh gia biến, cứ như thể Vân không phải người nhà họ Vương vậy!).

    Nói cách khác, Vân điềm nhiên vui hưởng hạnh phúc bên chàng Kim “phong tư tài mạo tót vời” mà không cần biết tới ai đã phải trả giá cho hạnh phúc của nàng. Thế nhưng, cũng chính nàng Vân ấy, trong cảnh gia đình đoàn tụ, lại có một ứng xử khá bất ngờ:



    Tàng tàng chén cúc dở say
    Đứng lên Vân mới giải bày một hai
    Rằng: trong tác hợp cơ trời
    Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao.
    Gặp cơn bình địa ba đào,
    Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
    Cũng là phận cải duyên kim
    Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao?
    Những là rày ước mai ao,
    Mười lăm năm ấy, biết bao là tình!
    Bây giờ gương vỡ lại lành
    Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.
    Còn duyên may lại còn người,
    Còn vừng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
    Quả mai ba bảy đương vừa,
    Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

    Câu nói của Vân có thể đơn giản hoá như sau: khi trước hai anh chị đã có lời nguyền ước, chẳng may vì sóng gió nổi lên, nên em mới phải thay chị kết duyên cùng anh. Nay chị đã trở về, hai anh chị hãy mau mau cưới nhau đi!

    Một cách nghĩ, một cách nói cũng có vẻ rất biết trước sau. Nhưng nếu ta thử đặt nó cạnh lời “chạy tội” của Hoạn Thư: “Lòng riêng, riêng những kính yêu/ Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai” - hầu hết chị em phụ nữ đều tâm đắc với câu này - thì mới thấy rằng với Vân, mười lăm năm vợ chồng cùng Kim Trọng hình như cũng không thâm trọng gì cho lắm: Vân nhường chồng dễ như nhường một cái áo! Và vì thế, tôi tin rằng khi hạ bút về nhân vật này: “Thừa gia chẳng hết nàng Vân/ Một cây cù mộc, một sân quế hòe”, hẳn Tố Như tử không giấu nổi một cái cười tinh quái. Một người đàn bà sống thờ ơ, vô tâm tính đến thế, thì khả năng duy nhất để tự thể hiện mình, đó là...đẻ con!

    Từ Hải – Kim Trọng


    a) Nếu như Thúy kiều là một nữ nhân vật Đậm, thì Từ Hải là một nam nhân vật Đậm của Truyện Kiều. Ngay ở phần giới thiệu, Nguyễn Du đã phác hoạ Từ Hải bằng những nét mạnh mẽ, thô hào, đầy chất hảo hán:

    Râu hùm, hàm én, mày ngài
    Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
    Đường đường một đấng anh hào
    Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
    Đội trời đạp đất ở đời
    Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
    Giang hồ quen thói vẫy vùng,
    Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.

    Tuy nhiên, ấn tượng về cái đậm của Từ Hải chính là ở chỗ, chàng là con người của những quyết định, và luôn được hoặc mất ở mức cao nhất bởi những quyết định. Ngay lần đầu tiên gặp Kiều ở lầu xanh, Từ Hải đã quyết định: “Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”. Thế rồi, khi đang nồng nàn hạnh phúc bên người đẹp, chàng bỗng quyết định “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” – xông pha gió bụi chiến trường để lập nên sự nghiệp. Trước khi ra đi, chàng đã nói với Kiều như phát thệ:

    Bao giờ mười vạn tinh binh
    Tiếng loa rợp đất, bóng tinh rợp đường
    Làm cho rõ mặt phi thường
    Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

    Chàng hứa sao thì làm được vậy. Và thế là Kiều đã “một bước lên bà”. Và thế là ơn trả oán đền cho bõ bao phen tủi nhục mà nàng phải chịu đựng. Tất cả là nhờ vào những quyết định của Từ Hải. Tuy nhiên, đáng tiếc nhất ở Từ Hải là ở chỗ, cái đích chót cùng cho sự quyết định của chàng lại chỉ có vậy: làm vui lòng người đẹp, được thả sức xưng hùng xưng bá ở cõi biên thùy. Hết.

    Nhiều người đã chỉ ra bản chất nông dân khởi nghĩa trong con người Từ Hải, rằng đây không phải hành động mang tính cách mạng gì cả, nó chỉ đơn giản là một cuộc nổi loạn. Điều đó đúng. Nhưng cần phải nói thêm, đó là cuộc nổi loạn không mang cao vọng đế vương, không đi đến cùng của quyết tâm “được làm vua, thua làm giặc”. Bởi thế mà khi Kiều ngon ngọt rỉ rả khuyên ra hàng triều đình thì “thế công Từ mới trở ra thế hàng”. Bởi thế mà Truyện Kiều mới có một cái chết kinh thiên động địa:

    Khí thiêng khi đã về thần
    Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng
    Trơ như đá, vững như đồng
    Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời

    Y học hiện đại có thể chuẩn đoán rằng Từ Hải chết vì đứt mạch máu não hoặc bị nhồi máu cơ tim. Dù sao đi chăng nữa, đó là cái chết vì một quyết định sai lầm mang tính tất yếu. Bản thân tính chất “kỳ” của cái chết này đã giống như một nét sổ đẫm mực vạch trên trang giấy cuộc đời Từ Hải, làm nên dấu ấn của một nhân vật Đậm trong Truyện Kiều bất hủ.


    b) Ở Từ Hải, những quyết định làm nên nhân vật Đậm, thì ở Kim Trọng, những dự định làm nên một nhân vật Nhạt. Kim Trọng không phải là kiểu người hành động, trái lại, chàng chỉ là kiểu người của những chuẩn bị hành động mà thôi.

    Trong tình yêu, chàng Kim không hề thiếu sự đam mê, nhưng chàng lại không đủ táo bạo để biến đam mê thành hành động cụ thể nhằm đạt tới đích. Vì “phải lòng” Kiều sau lần gặp mặt đầu tiên, chàng đã “tiếp cận” đối tượng bằng cách “lấy điều du học hỏi thuê” ngôi nhà ngay sau nhà họ Vương, đã kiên nhẫn chờ thời cơ suốt hai tháng ròng. Nhưng cũng chỉ đến thế. “Tấc gang nguồn khoá động phong/ Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”. Trận đấu đã đi vào bế tắc. Có thể vì bế tắc mà chàng sẽ nản chí bỏ đi. Cũng có thể chàng sẽ cứ suốt đời chờ đợi như vậy, nếu không có chuyện:

    Cách tường phải buổi êm trời
    Dưới đào, dường có bóng người thướt tha
    Buông cầm, xốc áo vội ra
    Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh
    Lần theo tường gấm dạo quanh
    Trên đào nhác thấy một cành kim thoa

    Cơn cớ gì mà chiếc thoa vàng lại nằm ở trên cành đào, nếu như không phải vì Kiều sốt ruột khi thấy anh chàng si tình chẳng biết làm gì khác ngoài chờ và chờ, nên đành phải thò một đầu dây cho chàng nắm lấy? Sau này, như ta sẽ thấy, chàng Kim tỏ ra vô cùng hoạt khẩu và là tác giả của những câu tỏ tình đáng đưa vào giáo khoa thư, nhưng suy cho cùng, người phá vỡ “sinh tử huyền môn quan” không phải là chàng. Đích thực thì Kim là người bị động.


    Khi nhà họ Vương gặp hoạ, Kim Trọng vì về Liêu Dương chịu tang chú nên đã không cứu được người yêu, cái đó có thể đổ tại số trời. Chàng đã vật mình than khóc đau đớn, đã luôn nhớ tới Kiều suốt mười lăm năm sống bên Vân, cái đó có thể ghi nhận một tấm lòng chung tình. Nhưng rồi cũng chỉ dừng lại ở đó. Quyết định cất công đi tìm Kiều là điều mà ta không hề thấy tác giả nói tới ở Kim Trọng. Ngay cả tới khi nghe được tin tức về Kiều từ lại già họ Đô và Thúc Sinh, thì chàng Kim cũng chỉ:

    Rắp mong treo ấn từ quan
    Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha
    Dấn mình trong áng can qua
    Vào sinh ra tử họa là thấy nhau
    Nghĩ điều trời thẳm vực sâu
    Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn!

    Luôn luôn là dự định, những dự định có thể rất dễ khiến cho lòng người phải cảm động, song nó cứ lơ lửng đó, không chịu tự triển khai, không chịu tự thực hiện, và xu thế của nó là luôn đầu hàng trước những khó khăn thách thức mà thực tại đặt ra.

    Bảo rằng đi tìm Thúy Kiều trong một biển người náo loạn là bóng chim tăm cá? Thì cũng đúng. Nhưng khả năng thành công của việc tìm kiếm này và khả năng thành công của việc Từ Hải thực hiện lời hứa đem mười vạn tinh binh trở về đón Kiều, đằng nào khó hơn? Vấn đề là Từ đã làm, còn Kim thì mới chỉ định làm mà thôi.

    Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi rốt cuộc, việc Kiều đoàn tụ với toàn gia hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố may rủi của số phận: chàng Kim đã làm lễ siêu độ cho Kiều vì cứ ngỡ nàng chết rồi, thì vãi Giác Duyên xuất hiện, chỉ cho nơi thảo am nàng đang nương náu. Một lần nữa, Kim Trọng lại hụt bước trong sự tự thể hiện mình như một kẻ dám yêu và dám hành động quyết liệt vì tình yêu! Và phần nào đó, vì sự trù trừ bất quyết đeo bám cả đời này mà chàng có một cái kết khá... tréo ngoe: có hai vợ, nhưng người mà chàng thực sự yêu thương thì chỉ có thể để chia sẻ những thú vui tinh thần như đánh cờ, uống rượu, thưởng hoa, ngâm thơ; việc sinh con nối dõi thuộc về người còn lại! Thế chẳng lạ lắm ru?

    Vĩ Thanh


    Phiếm luận về các nhân vật Đậm Nhạt trong Truyện Kiều, thực ra cũng là nói tới hai loại người cơ bản của đời sống ở mọi nơi mọi lúc (vì nói như nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Truyện Kiều là cuốn sách của một trăm tâm trạng).

    Nhân vật Đậm như Thúy Kiều, Từ Hải là mẫu người ít ra đã có sự ý thức về mình như là một cá nhân đơn trị. Họ dám sống trung thực với suy nghĩ và tình cảm của mình và dám chịu trách nhiệm đến cùng vì điều đó. Họ dám vượt qua những cấm kỵÅ mà xã hội đặt ra để được là chính mình, và bởi thế, trên nền đời sống bình thường, cuộc đời họ luôn là những bất thường: những cuộc ra đi, những nứt gãy, những vụt lóe và vụt tắt, những chuyển tiếp giữa các cực hạn, những chông chênh giữa được và mất...

    Còn nhân vật Nhạt như Thúy Vân và Kim Trọng, thì đó là mẫu người yên ổn với phận vị vốn có của mình, họ ý thức về mình thông qua những bậc thang giá trị mà xã hội đã thừa nhận một cách vững chắc. Những vui hay buồn, tuyệt vọng hay hạnh phúc, hoài bão hay khát vọng của họ không bao giờ vượt quá khuôn khổ quy định. Bởi thế mà đời họ ít biến động, ít xê dịch, nhưng cũng chính vì vậy mà đó là những cuộc đời ít sự gắn bó và niềm say mê với đời.

    Nói như Nguyễn Tuân, đó là những con người “mờ mờ, nhạt nhạt, xam xám” thuộc về một mẫu số chung tầm thường. Đơn giản, tôi coi mẫu người này là cơm, rất cần nhưng chưa đủ cho cuộc sống. Phần thiếu hụt ấy phải tìm ở mẫu người Đậm, đó là thứ rượu khiến cho người ta thấy cái gì là sự thăng hoa, sự thú vị trong nếp quen đến nhàm tẻ của tồn tại nhân sinh.

    sưu tầm

  8. bu0n_c4_+)0j

    bu0n_c4_+)0j Thành viên

    Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Sau khi nhận Kiều từ tay Mã giám sinh, Tú Bà buộc nàng tiếp khách nhưng Kiều không chịu. Mụ đã đánh đập thúc ép nên nàng đã tự sát để mong thóat khỏi cảnh ô nhục nhưng không được. Tú Bà đành giam lỏng nàng trong lầu Ngưng Bích nói là để tìm nơi xứng đáng gả chồng cho nàng nhưng kì thật là đợi để thực hiện mưu ma chước quỷ băt nàng phải làm gái lầu xanh kiếm lợi cho mụ. Đọan trích gồm 22 câu từ câu 1033 đến câu 1054.

    I/ VỊ TRÍ ĐỌAN TRÍCH

    Sau khi nhận Kiều từ tay Mã giám sinh, Tú Bà buộc nàng tiếp khách nhưng Kiều không chịu. Mụ đã đánh đập thúc ép nên nàng đã tự sát để mong thóat khỏi cảnh ô nhục nhưng không được. Tú Bà đành giam lỏng nàng trong lầu Ngưng Bích nói là để tìm nơi xứng đáng gả chồng cho nàng nhưng kì thật là đợi để thực hiện mưu ma chước quỷ băt nàng phải làm gái lầu xanh kiếm lợi cho mụ. Đọan trích gồm 22 câu từ câu 1033 đến câu 1054.

    II/ ĐẠI Ý trích đọan :

    Tả cảnh nơi lầu Ngưng Bích và tâm trạng cô đơn, buồn khổ, nhớ nhà, nhớ người yêu của Kiều .

    III/ BỐ CỤC :

    a/ 6 câu đầu : Giới thiệu thời gian không gian.
    b/ 8 câu kế : Tâm trạng cô đơn, buồn khổ nhớ người yêu, nhớ cha mẹ của Kiều.
    c/ 8 câu cuối : Ngọai cảnh trong mắt Kiều.

    IV/ĐỌC VÀ HIỂU VĂN BẢN .

    1/Hòan cảnh cô đơn của Kiều :
    Sáu câu đầu là bức tranh thiên nhiên tại lầu Ngưng Bích . Gợi tả hòan cảnh cô đơn của Kiều
    Trước hết là hình ảnh bị giam lỏng : “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”.
    Khóa xuân là khóa kín tuổi xuân, ý nói là bị cấm cung. Hai chữ cấm cung cho thấy Kiều bị giam trong lầu Ngưng Bích như co gái bị cấm cung . Nàng trơ trọi giữa một khung cảnh thiên nhiên vắng lặng, heo hút , không một bóng người :
    “Vẻ non xa tấm trăng gần soi chung.
    Bốn bề bát ngát xa trông,
    Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”.
    Câu thơ "Bốn bề bát ngát xa trông” như mở ra trước mắt Kiều một không gian rợn ngợp. Từ lầu cao nhìn ra là những dãy núi bát ngát điệp trùng xa mờ và mảnh trăng gần gũi như sắp chạm đầu. Trước mắt nàng là cảnh vật bốn bề xa trông bát ngát, bên thì từng đụn cát vàng nhấp nhô như sóng lượn , bên thì những đám bụi hồng trải khắp dặm xa.
    Cảnh thiên nhiên mênh mông hoang vắng đó càng làm nổi bật hơn nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của Kiều khiến nàng thêm bẻ bàng chua xót :
    “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya. Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
    Cụm từ “mây sớm đèn khuya” là từ thời gian khép kín. Khuya và sớm, đêm và ngày Kiều lẻ loi trơ trọi chỉ biết làm bạn với mây và đèn . Có thể nói đây là lúc nàng cô đơn tuyệt đối.

    2/ Tâm trạng Thúy Kiều :
    a/ Buồn và nhớ:
    Trong xúc cảm, trước hết, nàng nhớ đến Kim Trọng. Nàng hình dung ra người yêu đang sầu tư ngóng đợi. Có lẽ hơn lúc nào hết, trong lúc này, Kiều thương Kim Trọng vô hạn. Trong tình thương ấy có một chút ân hận ,nàng cảm thấy như mình có lỗi với chàng. Để chàng phải ngày đêm trông ngóng, đau khổ, mòn mõi “rày trông mai chờ”, Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình.
    “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng. Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
    Càng thương nhớ người yêu , càng tiếc nuối mối tình đầu không trọn vẹn, Kiều càng thấm thía tình cảnh bơ vơ nơi đất khách quê người của mình và càng hiểu tấm lòng sắt son của mình đối với Kim sẽ không bao giờ phai nhạt.
    “Bên trời góc bểbơ vơ. Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.
    Ở bốn câu thơ còn lại , Kiều xót xa thương nhớ cha mẹ :
    “Xót người tựa cửa hôm mai . Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ ? Sân Lai cách mấy nắng mưa. Có khi gốc tử đã vừa người ôm”
    Với cha mẹ, nỗi nhớ thương của Kiều cũng ngập tràn xót xa, da diết . Tuy đã bán mình cứu cha và em khỏi cảnh ngục tù nhưng Kiều vẫn thấy mình chưa trọn đạo làm con . Nàng hình dung ra bóng song thân giàyếu đang ngày đên “tựa cửa” ngóng trông mình và xót xa tự nghĩ ai sẽ là người thay mình chăm sóc cha mẹ . Chỉ với bốn câu thơ độc thọai nội tâm, tác giả đã thể hiện một cách sinh động , cao đẹp và đầy xúc cảm tấm lòng hiếu thảo của Kiều.
    Trong đọan thơ này , tài năng của thi hào Nguyễn du còn thể hiện ở chỗ đã đặt tình trước hiếu khi viết về tâm trạng Kiều. Để nàng nhớ người yêu trước rồi mới nhớ đến cha mẹ. Điều này thật chuẩn xác và khách quan vì đối vơi cha mẹ Kiều đả tự bán mình, như vậy cũng đã đền đáp được một phần chữ hiếu, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Còn đối với Kim Trọng, Kiều đã thấy mình lỗi hẹn như một người bạc tình:
    “Kim lang ơi, hỡi Kim lang. Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
    Đây là một chi tiết nhỏ nhưng nó cho thấy cái tinh tế trong tâm lý nhân vật mà Nguyễn Du nhận ra đã thể hiện một cách cực kỳ chính xác.
    b/ Buồn và lo :
    Tám câu cuối là tâm trọang buồn lo của Kiều qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình :
    “Buồn trông cửa bể chiều hôm. Thuyền ai thấp thóang cánh buồm xa xa.
    Buồn trông ngọn nước mới sa. Hoa trôi man mác biết là về đâu.
    Buồn trông nội cỏ dàu dàu. Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”.
    “Buồn” và “trông”. Buồn và cô đơn, nhìn đâu cũng thấy cảnh vật như có hồn, như cũng buồn theo mình. Cụm từ “buồn trông” như một điệp khúc vừa tạo ra nhạc điệu du dương vừa thể hiện nỗi buồn lớp lớp trào dâng trong lòng Kiều. Có những nét tả thực với “cửa bể, cánh buồm, chân mây, tiếng sóng…” nhưng đều chứa đựng nhiều nghĩa ẩn dụ , gợi mở những liên tuởng phản ảnh nỗi lòng Kiều . Kúc này nàng đang cảm thấy số phận cô đơn mong manh trong hiện tại và hãi hùng trước tương lai bão táp như đang chực chờ, đe dọa:
    “Buồn trông gió cuốm mặt ghềnh. Ào ào tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
    Nàng tưởng tượng như mình đang ở giữa biển khơi, bốn bề ầm ầm sóng vỗ . sóng dữ gào thét, cuồng nộ, tiếng dội bên tai dâng tràn dội cả vào tâm hồn , vây bủa nàng như dự báo cơn giông bão sẽ đổ ập xuống đầu không biết vào lúc nào…

    Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đọan tả cảnh ngụ tình hay nhất trong Truyện Kiều.

    sưu tầm

  9. bu0n_c4_+)0j

    bu0n_c4_+)0j Thành viên

    Mã GIám Sinh mua Kiều

    Sau khi gặp gỡ, đính ước cùng Kim Trọng thì thình lình gia đình gặp tai họa. Cha và em bị bắt bớ, hành hạ. Không đành lòng để gia đình tan nát, Kiều đã tự nguyện bán mình để lấy tiền lo lót cho bọn tham quan để chuộc cha và em ra khỏi vòng lao lý. Chẳng may, kẻ đếm mua nàng lại là Mã giám sinh, mộttên buônngười .
    Đọan trích gồm 34 câu từ câu 619 đến câu 652


    I/VỊ TRÍ ĐỌAN TRÍCH

    Sau khi gặp gỡ, đính ước cùng Kim Trọng thì thình lình gia đình gặp tai họa. Cha và em bị bắt bớ, hành hạ. Không đành lòng để gia đình tan nát, Kiều đã tự nguyện bán mình để lấy tiền lo lót cho bọn tham quan để chuộc cha và em ra khỏi vòng lao lý. Chẳng may, kẻ đếm mua nàng lại là Mã giám sinh, mộttên buônngười .
    Đọan trích gồm 34 câu từ câu 619 đến câu 652

    II/ĐẠI Ý:

    Tả chuyện Mả giám sinh mua Kiều để lộ dần chân tướng con buôn của gả đồng thời cũng thể hiện nỗi ê chề, nhục nhã trong tai họa bất hạnh đầu tiên của cuộc đời Kiều.

    III/BỐ CỤC:

    a/ Bốn câu đầu :Kiều quyết định bán mình. Gia đình nàng bắn tin cho người mối.
    b/Hai mươi sáu câu giữa. Cuộc mua bán Kiều.
    c/Bốn câu kết : Cuộc mua bán kết thúc và lời bình của tác giả.

    IV/ GƠI Ý TỰ HỌC:

    1/ Chân tướng của Mã giám sinh :
    Xuất hiện trong vai một chàng sinh viên đi lấy vợ lẻ. Mã giám sinh đến nhà Kiều đển dạm hỏi Kiều qua lễ “vấn danh”. Hắn là người phương xa, cả quê quán, lí lịch đều không rõ ràng. Tuy tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng hình thức diện mạo vẫn như trai lơ, bảnh chọe (Quá niên tạc ngoại tứ tuần. Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao).
    Ngoài ra còn có một đám tôi tớ lao xao nhâng nháo đi theo. Tất cả đều được mời vào nhà một cách trang trọng . Thế nhưng ngay từ phút đầu tiên, Mã đã không dấu được bộ mặt thật của mình. Đặc biệ với cử chỉ thô lỗ, không văn hoá “Ghế trên ngồi tót sổ sàng”. Chỉ với từ “ngồi tót, tác giả đã vạch mặt gã cho mọi người thấy rõ đó không phải là “giám sinh” gì cả mà chỉ là một tên vô học, thiếu lịch sự, thiếu văn hoá, một tên con buôn đúng nghĩa “buôn thịt bán người” .
    Tiếp đến là cách Mã nhìn, ngắm Kiều. Không phải là cách thức, tâm trạng của người đi “xem mặt vợ” mà là cách nhìn, xem xét và đánh giá một một mòn hàng “đặc biệt”. Hắn đã “đắn đo cân sắc cân tài. Ép cung đàn nguyệt, thử bài quạt thơ”. Hắn đã nhấc lên, đặt xuống, xoay sở đủ điều với Thuý Kiều. Khi đã tạm hài lòng với “món hàng”, Mã lại che đậy bản chất của mình bằng những lời khách sáo, mỹ miều, giả dối:
    “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều. Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường”
    Nhưng nói là nói vậy chứ không phải vậy. Bởi ngay sau đó gã lại bộc lộ tính “con buôn” của mình bằng cách thức “mua bán”, thách giá – trả giá như ngoài chợ trước “món hàng”
    “Cò kè bớt một thêm hai. Giờ lâu ngả giá vàng ngoài bốn trăm”. Trong khi người ra giá (mụ mối) “ thách” đến “ Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (!!)
    Lúc này Mã giám sinh đã hiện nguyên hình là một “con buôn thứ thiệt”, ghê tởm và đê tiện.

    2/ Tâm trạng đau thương tủi hổ của Kiều:
    Trong đoạn này, nếu hình ảnh Mã giám sinh càng xấu xa, đê tiện bao nhiêu thì hình ảnh Kiều càng tội nghiệp bấy nhiêu.
    Là một tiểu thư đài các “phong lưu rất mực hồng quần”. Kiều đang sống yên vui trong cảnh “Êm đềm trướng rũ màn che” , lại đang say men hạnh phúc với mối tình đầu vừa chớm nở, trong sạch nhưng cũng nồng ấm và mãnh liệt thì tai hoạ bất ngờ đổ xuống biến nàng thành món hàng cho bọn “buôn người” trao tay “cò kè bớt một thêm hai” mua bàn, bán mua. Vốn là một người con gái thông minh và nhạy cảm, kiều cảm nhận rất sâu sắc tình cảnh của mình trong lúc này là đáng hổ thẹn , nhục nhã tột cùng.
    “Nỗi mình thêm tức nỗi nhà. Thềm hoa một bước lệ sa mấy hàng.
    Ngại ngùng rợn gió e sương. Nhìn hoa thẹn bóng, soi guơng mặt dầy”
    Trong màn kịch “lễ vấn danh” , dưới tay đạo diễn của mụ mối. Kiều đã nhất cử nhất động làm theo : đánh đàn, làm thơ như những việc làm máy móc, vô cảm , trơ lì chịu đựng, đành chấp nhận tất cả, miễn sao đạt được mục đích là “có tiền” đễ chuộc cha và em ra khỏi vòng lao lý, để gia đình không tan nát. Với dáng vẻ “Nét buồn như cúc, dáng gầy như mai”, hình ảnh của Kiều hiện ra thật đáng thương, tội nghiệp. Tuy nín lặng rất mực nhưng cô gái nàuy đã không sao giấu được nỗi niềm cay đắng , xót xa và tủi nhục tột bực của mình.

    Qua đoạn trích này ta càng thấy rõ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua thái độ đau đớn, xót xa trước thực trạng thân phận và nhân phẩm con người, cụ thể ở đây là Kiều, bị chà đạp, bị hạ thấp. Ngòi bút bất bình của tác giả phẩn nộ trong từng câu, từng chữ khi phải nói đến tên “buôn nguời” Mã giám sinh. Cũng có thể nói đây là một lời tố cáo thực trạng xã hội xấu xa, lời lên án thế lực đồng tiền thật mạnh mẽ
    sưu tầm

  10. bu0n_c4_+)0j

    bu0n_c4_+)0j Thành viên

    Chị em Thuý Kiều

    Đoạn trích thuộc phần mở đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại

    I/ VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH
    Đoạn trích thuộc phần mở đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại. Đó là một gia đình trung lưu , có 3 người con. Con trai út là Vương Quan và hai cô con gái là Thúy Kiều và Thúy Vân . . Đoạn trích gồm 24 câu ( từ câu 15 đến câu 38 ) nói về Chị em Thúy Kiều.

    II/ BỐ CỤC:
    a/4 câu đầu : Khái quát về ngoại hình và cốt cách hai chị em Kiều.
    b/4 câu tiếp : Vẻ đẹp của Thúy Vân.
    c/16 câu còn lại : Vẻ đẹp của Thúy Kiều .

    III/PHÂN TÍCH ( Đọc và hiểu văn bản)

    1/Đoạn trích kết cấu chặt chẽ thể hiện rõ trình tự miêu tả nhân vật tài tình của Nguyễn Du :
    -Giới thiệu khái quát.
    -Tả Thúy Vân để làm nền tả Thúy Kiều.
    -Tả tài sắc vẹn toàn, hiếm có của Thúy Kiều.

    2/Vẻ đẹp của Thúy Vân : Ta thấy gì qua việc tác giả chọn trình tự “tả Vân trước rồi mới tả Kiều" ?
    Trước tiên tác giả chỉ nói khái quát. Chỉ với “ Mai cốt cách, tuyết tinh thần” ông đã khái quát được vẻ đẹp chung ai cũng hoàn thiện, toàn mỹ (mười phân vẹn mười) tuy là “mỗi người một vẻ” với những tính cách rất riêng.
    Để làm việc này, tác giả đã dùng bút pháp ước lệ, tuợng trưng, lấy vẻ đẹp thiên nhiên để làm chuẩn mực so sánh gián tiếp với vẻ đẹp của Vân, Kiều ( mai ,mây, tuyết…)
    Chỉ với 4 câu miêu tả ngắn gọn, ngòi bút thơ của Nguyễn Du làm hiển thị một Thúy Vân từ khuôn mặt, nét mày, màu da, mái tóc đến nụ cười của một cô gái xinh đẹp, thùy mỵ, nết na, dịu dàng, đoan trang, phúc hậu và khiêm nhường . Biện pháp tu từ ẩn dụ ước lệ, đặc biệt là các từ “trang trọng, đầy đặn, đoan trang, thua, nhường” đã phác hoạ ra một Thúy Vân phúc hậu, đẹp người đẹp nết và nhất là đã ngầm dự báo một tương lai sáng sủa của nàng.
    3/Vẻ đẹp Thuý Kiều :
    Sau khi đã “chiêm ngưỡng” Thuý Vân “tài sắc vẹn toàn”như thế. Ta càng ngưỡng mộ hơn “tài sắc Thuý Kiều” khi đọc đến “Kiều càng sắc sảo mặn mà. So bề tài sắc lại là phần hơn”. Thậm chí nếu tác giả không nói thêm một lời nào nữa thì qua Thúy Vân tuyệt sắc kia ta cũng có thể hình dung ra một Thuý Kiều “tài sắc tuyệt vời” như thế nào. Cái dụng ý của Nguyễn Du là ở chỗ này.
    Vẻ đẹp của Thuý Kiều ẩn chứa trong đôi mắt :
    “Làn thu thủy, nét xuân sơn”
    Ánh mắt trong xanh như làn nước mùa thu. Lông mày xinh tươi như vẻ núi mùa xuân. Nhan sắc đó đã làm cho hoa, liễu vô tri kia cũng muốn ganh tị, hờn ghen:
    “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
    Nhan sắc ấy đã làm cho tạo hoá phải ghét lây, các vẻ đẹp khác phải đố kỵ phải chăng để ngầm dự báo cho một tương lai u ám, đầy éo le đau khổ của Kiều ?
    Không chỉ có thừa “chỉ số” về nhan sắc, Kiều còn là một cô gái thông minh và tài hoa rất mực:
    “Thông minh vốn sẵn tính trời. Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”
    Đủ tài “cầm kỳ thi họa” Kiều lại còn là một hảo cầm thủ mà tuyệt xảo là khúc “ Bạc mệnh" mà nàng tự sáng tác ra:
    “Cung thương làu bậc ngủ âm. Nghề riêng ăn đứt, hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương. Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.
    Bằng lối tu từ ẩn dụ, ước lệ, thậm xưng, Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tuyệt tác về nhan sắc “nghiêng nước, nghiêng thành” của Kiều .
    Qua đoạn trích này, Nguyễn Du đã hết sức trân trọng đề cao vẻ đẹp một con người, một vẻ đẹp hoàn thiện , hoàm mỹ. Đây chính là một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo, nhân văn trong Truyện Kiều vậy.
    sưu tầm

Chia sẻ trang này