Thiết kế câu hỏi hấp dẫn cho môn Giáo dục công dân

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 11/9/15.

Lượt xem: 160

  1. Hoài An Điều hành viên

    Theo đó, câu hỏi kiểm tra hoặc quá dễ, hoặc chỉ yêu cầu học sinh chép thuộc lòng, không phát huy hết khả năng tư duy của học sinh. Khi đánh giá cũng chưa thật toàn diện, chỉ dựa vào điểm số các bài kiểm tra.

    Bên cạnh đó, việc kiểm tra, đánh giá môn Giáo dục công dân vẫn nặng về lý thuyết, đánh giá một chiều, thiếu mềm dẻo trong phương pháp dạy học.

    Kĩ thuật thiết kế câu hỏi tự luận

    Với các mức độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng, cô Hoàng Tuệ Minh cho biết có thể có các dạng câu hỏi kiểm tra như sau:

    Câu hỏi tự luận nhận biết: Là loại câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung đã học để trình bày lại giống như vậy.

    Ví dụ: Em hãy cho biết thế nào là tệ nạn xã hội?

    Câu hỏi tự luận thông hiểu: Là câu hỏi yêu cầu học sinh dùng ngôn ngữ riêng để trình bày lại kiến thức đã học, tự rút ra kết luận hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích…về một vấn đề nào đó.

    Ví dụ: Theo em vì sao con người phải biết giữ chữ tín?

    Câu hỏi tự luận vận dụng: Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể

    Ví dụ: Hãy nêu những điều em thấy tự hào về tình bạn của mình. Em sẽ làm gì để xây dựng tình bạn trong sáng và lành mạnh với các bạn trong lớp, trong trường?

    Cô Hoàng Tuệ Minh lưu ý: Với hình thức kiểm tra tự luận, việc xây dựng câu hỏi, đáp án và biểu điểm phải rất chi tiết, rõ ràng và khi chấm phải tôn trọng các cách trình bày, suy nghĩ của học sinh, tránh đánh giá tùy tiện hoặc thiên vị.

    Kĩ thuật thiết kế câu hỏi tình huống

    Việc ra câu hỏi tình huống, theo cô Hoàng Tuệ Minh, phải đáp ứng các yêu cầu sư phạm như sau:

    Tình huống phải sát hợp nội dung bài học, mục đích kiểm tra, đánh giá; tình huống phải hấp dẫn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh; gần giũ với cuộc sống thực; có độ dài vừa phải; tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết.

    Với tình huống yêu cầu học sinh nhận xét, đánh giá, có thể theo cấu trúc: Nội dung của tình huống (sự kiện, vấn đề,... cần giải quyết); câu hỏi nghiên cứu hoặc câu hỏi định hướng học sinh nhận xét, đánh giá về một vấn đề nào đó mà tình huống đặt ra.

    Ví dụ: Minh hứa với bố mẹ Quang và cô giáo chủ nhiệm là sẽ giúp đỡ Quang học tập tiến bộ. Vì thế, bài tập nào mà Quang không làm được thì Minh đều làm hộ và đưa cho Quang chép. Em có nhận xét gì về hành vi của Minh?

    Với tình huống yêu cầu học sinh đề xuất cách ứng xử có thể theo cấu trúc: Nội dung của tình huống (sự kiện, vấn đề… cần giải quyết); câu hỏi nghiên cứu/câu hỏi định hướng giải quyết tình huống

    Ví dụ: Một số bạn học sinh có hành vi hay viết, vẽ bậy ra bàn, lên tường lớp học, nhảy lên bàn ghế đùa nghịch… Nếu chứng kiến việc làm đó em sẽ làm gì?

    Với tình huống cho trước cách ứng xử để học sinh lựa chọn cách ứng xử phù hợp, câu hỏi có thể theo cấu trúc: Nội dung của tình huống ( sự kiện, vấn đề... cần giải quyết); các phương án lựa chọn (yêu cầu học sinh chỉ chọn một )

    Ví dụ: Nếu tình cờ phát hiện có kẻ buôn bán ma túy, em sẽ lựa chọn cách ứng xử nào sau đây mà em cho là phù hợp nhất? (Hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)

    A- Lờ đi coi như không biết để tránh bị trả thù.

    B- Không làm gì vì đây là việc làm quá sức với học sinh lớp 8

    C- Báo cáo ngay cho cha mẹ hoặc thầy cô giáo hay người có trách nhiệm biết.

    D- Bí mật theo dõi kẻ đó, khi phát hiện ra chứng cớ sẽ báo công an để góp phần phòng chống ma túy

    Thiết kế câu hỏi nhiều phương án lựa chọn

    Khi thiết kế câu có nhiều phương án lựa chọn, cô Hoàng Tuệ Minh cho rằng, cần tránh có 2 - 3 câu trả lời đúng; có phương án “tất cả đều đúng” hoặc “tất cả đều sai”.

    Phần dẫn phải có nội dung rõ, không nên đưa nhiều ý kiến vào trong một câu. Nên hạn chế sử dụng câu dẫn dạng phủ định.

    Cần có mối liên hệ giữa câu dẫn với các phương án lựa chọn,vtạo nên một nội dung hoàn chỉnh, có nghĩa. Tránh diễn đạt nguyên văn sách giáo khoa. Câu nhiễu phải có cấu trúc và nội dung tương tự như câu trả lời đúng đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ để loại trừ. Như vậy chỉ có học sinh nào nắm chắc và hiểu thực sự thì mới lựa chọn đúng.

    Một số dạng câu hỏi cụ thể như: Trắc nghiệm đúng - sai, trắc nghiệm ghép đôi, trắc nghiệm điền khuyết.

    Trắc nghiệm đúng - sai có phần dẫn và phần trả lời. Phần trả lời chỉ có hai phương án đúng và sai. Câu hỏi trắc nghiệm đúng - sai phải có độ khó đối với học sinh chưa hiểu kĩ bài và phải có tính đúng sai rõ ràng.

    Các câu trong phần dẫn nên viết ngắn gọn, không nên trích dẫn nguyên văn nội dung sách giáo khoa; tránh sử dụng thuật ngữ mơ hồ, không xác định về mức độ như “thông thường”, “hầu hết” hoặc “tất cả”… vì học sinh dễ đoán được câu đó đúng hay sai.

    Dạng trắc nghiệm ghép đôi thường có cấu tạo gồm: Trên là câu lệnh, tiếp theo là hai dãy (còn gọi là hai cột). Dãy bên trái có thể là các câu đã hoàn chỉnh hoặc các câu chưa hoàn chỉnh, hay các câu hỏi; dãy bên phải là các nội dung có liên quan đến các câu hỏi ở dãy trái.

    Các câu để ghép đôi đòi hỏi học sinh phải đọc hết các câu ở dãy bên trái và các câu ở dãy bên phải, suy nghĩ để tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Sau đó các em trả lời thích hợp bằng gạch nối…

    Cô Hoàng Tuệ Minh lưu ý, khi viết loại câu này cần chú ý: Số nội dung lựa chọn ở dãy trái cần nhiều hơn số nội dung ở dãy phải để có “nhiễu”, tạo độ khó cho câu hỏi. Mỗi nội dung ở dãy trái chỉ nối với một nội dung ở dãy phải. Các nội dung ở mỗi dãy nên ngắn gọn vì nếu dài quá sẽ làm cho học sinh mất nhiều thời gian đọc và lựa chọn.

    Dạng trắc nghiệm điền khuyết có hai loại. Loại 1: Có thể là những câu phát triển với một hoặc nhiều chỗ trống để học sinh phải điền một từ hoặc một cụm từ hay kí hiệu thích hợp nào đó

    Loại 2: Học sinh phải tự tìm từ hay cụm từ thích hợp để điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh một khái niệm,một định nghĩa, một nội dung… sao cho đúng.

    Trong quá trình biên soạn đề kiểm tra, cô Hoàng Tuệ Minh cho rằng, giáo viên cần có sự kết hợp các câu hỏi ở các mức độ khác nhau.

    "Đối với môn Giáo dục công dân ở THCS, tỉ lệ giữa các mức độ nhận thức của một đề kiểm tra có thể là: Mức độ nhận biết: 20% - 30%; mức độ thông hiểu: 30% - 40%; mức độ vận dụng: 40%" - cô Hoàng Tuệ Minh cho hay.
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này