Photoshop - Dấu ấn 20 năm

Thảo luận trong 'Thế giới Net' bắt đầu bởi s0ph4n1990, 21/3/10.

Lượt xem: 1,461

  1. s0ph4n1990 Điều hành viên

    Tối ngày 18/2/2010, lễ kỷ niệm "20 năm Photoshop" diễn ra tại nhà hát lớn của San Francisco (bang California, Mỹ), do Hiệp hội Chuyên viên Photoshop (National Association of Photoshop Professionals - NAPP) và Công ty Adobe Systems phối hợp tổ chức. Tính từ ngày 19/2/1990 - ngày phát hành chính thức phần mềm Adobe Photoshop 1.0, Photoshop được xem là tròn 20 tuổi. Adobe quyết định tiến hành nhiều hoạt động chào mừng tuổi đôi mươi của Photoshop trong suốt năm 2010. Cho dù không có những hoạt động quảng bá Photoshop mạnh mẽ của Công ty Adobe trong năm 2010, đối với hàng trăm triệu người dùng Photoshop trên khắp thế giới, Photoshop luôn là từ ngữ ghi dấu ấn sâu đậm trong tiềm thức. Từ photoshop (không viết hoa) đã trở thành một động từ quen thuộc diễn đạt việc xử lý ảnh, cũng không hiếm khi được dùng như một tính từ (photoshopped hoặc gọn hơn, shopped) để nói về những bức hình tưởng là ảnh chụp từ thực tế nhưng đã qua "chế biến", tạo nên những chi tiết không có thực. Cùng với lễ kỷ niệm tại Mỹ, hoạt động chào mừng "20 năm Photoshop" diễn ra tại nhiều nước (Đức, Pháp, Nhật, Ấn, Singapore,...), phần lớn do cộng đồng người dùng Photoshop tự tổ chức, dưới hình thức cuộc thi xử lý ảnh hoặc cuộc gặp gỡ của những "cao thủ Photoshop" nhằm trình bày những thủ thuật xử lý ảnh thú vị nhất. Trên nhiều trang blog hoặc trong dòng tweet cuồn cuộn, những lời cảm ơn tận đáy lòng được bày tỏ từ những người kiếm sống bằng Photoshop, hướng đến những người đã tạo nên, đã phát triển Photoshop thành công cụ tinh tế như ngày nay. "Màn hình chào" (splash screen) của các phiên bản Adobe Photoshop đầu tiên ghi tên bốn người tham gia vào việc xây dựng sản phẩm trong hai năm 1989-1990: Thomas Knoll, John Knoll, Steve Guttman và Russell Brown. Câu chuyện anh em Knoll Từ thuở niên thiếu, hai anh em Thomas Knoll và John Knoll đã thành thạo kỹ thuật xử lý ảnh trong buồng tối, do ảnh hưởng bởi niềm đam mê nhiếp ảnh của người cha - Glenn Knoll, giáo sư Đại học Michigan. Hai cậu Thomas và John cũng yêu thích việc lập trình trên máy tính Apple II. Xúc cảm từ nghệ thuật nhiếp ảnh tác động đến việc chọn nghề của Thomas và John. Thomas theo ngành khoa học máy tính tại Đại học Michigan, luôn quan tâm đến những giải thuật xử lý ảnh (thu nhận từ máy quét). Khác với người anh, John tìm đến Đại học Southern California, theo ngành điện ảnh. Vào năm 1987, trong khi Thomas đang thực hiện luận án tiến sĩ về xử lý ảnh, John tốt nghiệp đại học và tìm được việc làm "trong mơ" tại Công ty ILM (Industrial Light and Magic), nơi chuyên thực hiện kỹ xảo hình ảnh cho các xưởng phim ở Hollywood. Khi thực hiện luận án, Thomas thử nghiệm nhiều giải thuật xử lý ảnh trên máy tính Mac (Macintosh). Máy Mac vào lúc đó dùng màn hình đơn sắc, khiến anh phải nghiên cứu giải thuật giả lập sắc độ xám để hiển thị được ảnh "đen trắng" trên màn hình. Thomas đặt tên cho tập hợp các chương trình nhỏ của mình là Display.
    [​IMG]
    Thomas Knoll và John Knoll (1990)
    Trong một lần về thăm nhà ở Michigan, John nhận thấy Display có nhiều nét giống với phần mềm xử lý ảnh mà anh thường dùng trên máy tính Pixar đắt tiền tại ILM. Không thể đứng ngoài "cuộc chơi", John tham gia vào việc phát triển phần mềm Display, tự tạo thêm hoặc đề nghị Thomas tạo thêm các chức năng mới cho Display giúp ích cho việc làm phim ở ILM. John đề nghị Thomas đổi tên Display đơn giản thành tên khác, hấp dẫn hơn. Lúc đầu cả hai chọn tên ImagePro, sau đổi thành PhotoLab, cuối cùng nhất trí chọn tên PhotoShop, một tên chưa ai dùng. Tuy nhiên, khi John đề nghị thương mại hóa PhotoShop, Thomas lại e ngại vì không muốn nhảy vào cuộc kinh doanh trong lúc luận án còn dở dang. Tin chắc vào triển vọng của PhotoShop, khi trở lại làm việc tại California, John tìm cách liên lạc với nhiều công ty ở vùng Silicon Valley để tìm kênh phân phối chuyên nghiệp cho sản phẩm "cây nhà lá vườn" của mình. Vừa thúc giục Thomas tiếp tục bổ sung chức năng cho PhotoShop, John vừa biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng. Sau khi gửi lại tài liệu cùng đĩa mềm PhotoShop tại nhiều công ty, chờ thẩm định và nhận được nhiều... lời từ chối, cuối cùng John cũng đạt được ý nguyện. Công ty Adobe chấp thuận phân phối PhotoShop với tên gọi Adobe Photoshop (Shop được sửa thành shop). Để hoàn thiện Photoshop trước khi phát hành, hai chuyên viên của Adobe - Steve Guttman và Russell Brown - đề nghị với John nhiều sửa đổi về cấu trúc và giao diện của phần mềm. John truyền đạt lại cho Thomas ở Michigan qua điện thoại. Cứ vài ngày, Thomas lại ra bưu điện, gửi cấp tốc đĩa mềm chứa chương trình vừa chỉnh sửa cho Adobe (lúc đó chưa phải là thời đại Internet). Ngày 19/2/1990, phần mềm Adobe Photoshop 1.0 dùng cho máy Mac, có dung lượng 728 KB, được phát hành ở dạng đóng gói, gồm một đĩa mềm và tài liệu hướng dẫn. Đến năm 1995, Adobe mua đứt bản quyền Photoshop từ anh em Knoll.
    [​IMG]
    Từ trái qua: John Loiacono (Phó chủ tịch Adobe), Russell Brown (Giám đốc sáng tạo Adobe), Thomas Knoll, John Knoll, Kevin Connor (Giám đốc sản phẩm Photoshop) tại lễ kỷ niệm "20 năm Photoshop" (18/2/2010)
    Vì sao là Photoshop? Nhiều người vẫn nghĩ Photoshop là phần mềm xử lý ảnh đầu tiên. Nói cho đúng, Photoshop là phần mềm xử lý ảnh hoàn chỉnh đầu tiên trên máy tính cá nhân. Trước Photoshop, phần mềm Realist trên máy Mac (sau đổi tên thành ImageStudio) có chức năng cắt ghép ảnh nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của những người yêu thích nhiếp ảnh: cải thiện chất lượng ảnh. Khi Photoshop xuất hiện trên máy Mac, máy PC mới chỉ có những phần mềm vẽ tranh, chưa hề có chức năng xử lý ảnh. Không chỉ đi tiên phong với nhiều chức năng đồ họa, Mac còn là loại máy tính cá nhân đầu tiên dùng màn hình màu, đủ sức hiển thị trung thực ảnh màu (John mua ngay máy Mac có màn hình màu cho Thomas khi loại máy "đời mới" ấy vừa xuất hiện trên thị trường). Vì vậy, trong một thời gian dài, máy Mac là "công cụ chuẩn" cho giới thiết kế đồ họa chuyên nghiệp. Gắn bó với máy Mac, Photoshop cũng trở thành "công cụ chuẩn". Thực ra, từ trước khi được phát hành rộng rãi bởi Adobe, PhotoShop đã chiếm được cảm tình của giới làm phim chuyên nghiệp. John Knoll đã dùng PhotoShop để xử lý từng khung hình trong một số cảnh của phim Abyss (phim của đạo diễn James Cameron). PhotoShop giúp tách nhân vật khỏi màn xanh, đặt vào hậu cảnh tùy ý, chỉnh sửa ánh sáng của từng khung hình trong cảnh và tạo ra các hiệu ứng độc đáo. Giải Oscar "Kỹ xảo hay nhất" (Best Visual Effects) dành cho phim Abyss trong năm 1990 chính là "chiến công" của PhotoShop. Do PhotoShop quá gắn bó với điện ảnh, một trong những đề nghị đầu tiên của Adobe với John Knoll là... loại bỏ những chức năng trong PhotoShop chỉ thích hợp với người làm phim, không đắc dụng cho người dùng bình thường. Điều này khiến John Knoll phải chuyển những chức năng yêu thích của mình trong PhotoShop thành chức năng cắm thêm (plug-in). Cơ cấu này mở đường cho sự phát triển vô cùng phong phú của những plug-in, tạo nên thế mạnh đặc thù cho Photoshop. Từ năm 1992, khi vai trò chuyên nghiệp của Photoshop đã được xác lập, các phần mềm khác có chức năng xử lý ảnh tương tự Photoshop (Photo-Paint, Paint Shop Pro tại Mỹ, Nuances tại Pháp,...) mới xuất hiện. Vị thế tiên phong của Photoshop được giữ vững nhờ những sáng tạo không ngừng của nhóm phát triển Photoshop tại Adobe. Mỗi phiên bản Photoshop mới đều có những chức năng mới thu hút người dùng. Sự xuất hiện khái niệm lớp (layer) trong Photoshop 3.0 (1994) là đột phá quan trọng. Dùng nhiều lớp trong Photoshop, người dùng không chỉ tạo ra nhiều hình chồng lên nhau mà còn có thể kết hợp từng điểm ảnh (pixel) trên nhiều lớp theo nhiều cách để tạo ra những hiệu ứng lạ mắt. Lớp bên trên có thể "chỉnh sửa" lớp bên dưới nhưng lớp bên dưới không thay đổi (hình gốc được giữ nguyên).
    [​IMG]
    Phiên bản Photoshop 1.0.7 được tái tạo trên iPhone, do Russell Brown (Giám đốc sáng tạo Adobe) giới thiệu tại lễ kỷ niệm "20 năm Photoshop"
    Với phiên bản Photoshop CS5 sắp tới, Adobe không chỉ khai thác triệt để những giải thuật nhận dạng nhằm tạo ra các chức năng thông minh trong việc tách biệt hình dạng trong ảnh (chức năng Patch Match, Spot Healing,...), mà còn cố gắng đáp ứng tinh tế nhu cầu vẽ tranh nghệ thuật để "sánh vai" với Corel Painter. Dù sao, xử lý ảnh luôn là mục tiêu quan trọng nhất của Photoshop. Trở nên đồng nhất với khái niệm xử lý ảnh, Photoshop góp phần chủ yếu vào việc loại bỏ tính xác thực đương nhiên của ảnh chụp. Ngày nay, bức ảnh chụp không còn giá trị minh chứng mạnh mẽ như đã từng có trong quá khứ. Mọi người bắt đầu hiểu rằng bức ảnh chụp đầy tính thuyết phục trước mắt họ hoàn toàn có thể là sản phẩm của Photoshop!
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này