Tắt Quảng Cáo [X]
"Linh hồn" của học chế tín chỉ | Bụi phấn - Diễn đàn dạy và học
"Linh hồn" của học chế tín chỉ

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 2/2/16.

Lượt xem: 341

  1. Hoài An Điều hành viên

    Phương pháp dạy học mới: “Linh hồn” của học chế tín chỉ

    Theo PGS.TS. Trương Văn Chung (ĐHQG HCM), việc đổi mới phương pháp giảng dạy không phải do yêu cầu của học chế tín chỉ mà xuất phát từ triết lý, chuẩn mực mới của nền giáo dục hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội là đào tạo ra người lao động chất lượng cao, có tính tự chủ, năng động và tinh thần sáng tạo.

    Các phương pháp giảng dạy dù đa dạng đến như thế nào cũng đều có 2 nét đặc trưng. Một là, phương pháp giảng dạy tuân thủ một triết lý giáo dục cơ bản, sự định hướng và tổ chức thực hiện theo triết lý đó.

    Hai là phương pháp phải đạt được mục tiêu và nội dung xác định trong chương trình đào tạo.

    Đặc trưng thứ nhất của phương pháp giảng dạy, theo PGS.TS. Trương Văn Chung, chúng ta đã có triết lý chỉ đạo là đặt người học vào vị trí trung tâm của nền giáo dục. Phương pháp giảng dạy cụ thể cho từng ngành vì thế phải được đổi mới theo tinh thần đó.

    Vấn đề ở đây là đặc trưng thứ 2: Mối liên hệ của phương pháp giảng dạy với mục tiêu, nội dung đào tạo theo học chế tín chỉ sao cho chất lượng và hiệu quả.

    Về vấn đề này, PGS.TS. Trương Văn Chung cho biết: Khi chuyển đổi sang học chế tín chỉ, Trường đã cấu trúc lại chương trình đào tạo theo hướng giảm khối lượng tiết học toàn khóa, các Khoa, Bộ môn đã rà soát lại mục tiêu đào tạo của từng ngành và sắp xếp lại hệ thống các môn học; qui định tăng tỷ lệ thực hành, thảo luận, thuyết trình, làm bài tập so với giờ lý thuyết trên lớp; tổ chức cho sinh viên lựa chọn, đăng ký môn học…

    Vì vậy, tương ứng với những thay đổi đó sẽ phải có một phương pháp giảng dạy cụ thể để phù hợp với mục tiêu đào tạo và nội dung chương trình đào tạo của từng ngành theo học chế tín chỉ. Mối liên hệ ở đây là học chế tín chỉ với tư cách là hình thức tổ chức dạy và học đáp ứng cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nó sẽ chỉ là hình thức tổ chức đào tạo, tạo điều kiện cho việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới. Song, nó lại yêu cầu tính đa dạng và sáng tạo của người giảng viên thể hiện phương pháp mới đó vào ngành học, môn học cụ thể mà mình đảm nhiệm.

    Kinh nghiệm đào tạo tín chỉ ở Mỹ đã chỉ ra rằng: Một phương pháp giảng dạy đa dạng và sáng tạo sẽ kết dính tất cả những vòng khâu then chốt của hệ thống tín chỉ: sứ mạng, mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, hoạt động dạy và học ở lớp, vai trò người thầy, tự học, nghiên cứu độc lập của sinh viên... tạo ra sức sống, sự mềm mại, năng động của hình thức tín chỉ.

    “Theo tôi hiểu phương pháp giảng dạy mới ở đây chính là “linh hồn” của học chế tín chỉ. Thực hiện phương pháp giảng dạy mới chính là giải pháp tốt nhất để chống lại xu hướng khá phổ biến ở các trường đại học khi chuyển đổi sang học chế tín chỉ - xu hướng bình mới, rượu cũ” - PGS.TS. Trương Văn Chung nêu quan điểm.

    Để có phương pháp giảng dạy mới, hiệu quả

    Để có một phương pháp giảng dạy mới, hiệu quả, theo PGS.TS. Trương Văn Chung, phải thực hiện đồng bộ nhiều nhóm công việc liên quan như: Chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu tham khảo, sự năng động và tự chủ ở sinh viên, cơ sở vật chất kỷ thuật và hệ thống thông tin, và quan trọng nhất phải từ nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm và sáng tạo của giảng viên…

    Theo đó, các nhà trường cần tạo ra một phong trào sâu, rộng việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới trong toàn thể đội ngũ giảng viên, lấy giảng viên trẻ làm nòng cốt. Phong trào cần được tiến hành liên tục, kiên trì, có kế hoạch, thời hạn và những giải pháp duy trì, có tổng kết, đánh giá, khen thưởng tránh làm hình thức, nhất thời.

    Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn nữa đến đời sống vật chất tinh thần của đội ngũ giảng viên. Cụ thể nhất là cần xem xét tính toán lại thù lao giảng dạy cho giảng viên - đó là sự quan tâm, động viên thiết thực nhất.

    Nên chuẩn hóa đề cương chi tiết các môn học, khoa hoặc bộ môn qui định khung tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành kỹ năng tự nghiên cứu và thuyết trình... một cách hợp lý theo hướng tăng dần tỷ lệ thực hành, đây cũng là yếu tố thúc đẩy sinh viên rèn luyện khả năng tự học, tự NCKH một cách độc lập.

    Trường hợp một số đông sinh viên, nên có qui định thêm trợ giảng để giúp giảng viên chính tổ chức thảo luận hoặc hướng dần hội thảo đạt hiệu quả cao hơn.

    Cuối cùng, cần mở rộng không gian tự học ngoài giờ cho sinh viên, tăng diện tích phòng đọc sách, thư viện để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của sinh viên.
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này