Hồi ức của một Geisha - Memories of a Geisha - Arthur Golden

Thảo luận trong 'Truyện dài' bắt đầu bởi cohonnhien, 28/8/09.

Lượt xem: 557

  1. cohonnhien Thành viên

    Mặc dù trên kệ mới chỉ có mấy đôi giầy, nhưng Bí Ngô vẫn nói với tôi:
    - Khi leo lên kệ, bạn cẩn thận đừng đạp lên giày của người khác. Nếu bạn đạp lên giày của cô nào mà họ biết, họ trách mắng bạn không chịu nổi đâu.
    Tôi thấy phía trong nhà trường cũ kỹ và bụi bặm như ngôi nhà bỏ hoang. Cuối hành lang dài tôi thấy một nhóm khoảng bảy tám cô gái đang đứng. Thấy họ, tôi bỗng giật mình hốt hoảng, vì tôi cứ tưởng có một cô là chị Satsu, nhưng khi họ quay lại nhìn chúng tôi, tôi thất vọng vì không phải. Tất cả đều có một kiểu tóc, kiểu ngắn gọn của các cô geisha tập sự. Họ nhìn tôi với ánh mắt như thể họ là những người từng trải ở Gion nhiều hơn Bí Ngô và tôi.
    Đến giữa hành lang, chúng tôi đi vào phòng học, phòng rộng rãi xây theo kiểu cổ truyền của Nhật Bản Trên một bức vách có treo một tấm bảng lớn, trên bảng có những cái móc, một vài cái móc có treo những tấm bảng nhỏ bằng gỗ trên bảng, viết tên học viên bằng chữ thật đậm màu đen. Khả năng đọc và viết của tôi còn yếu, tôi có đi học ở Yoroido vào buổi sáng, và khi đến Kyoto, tôi chỉ được học với bà Dì một giờ vào buổi chiều, nhưng tôi cũng đọc được vài tên. Bí Ngô đến lấy tấm bảng có tên cô ta để trong cái hộp trên chiếu rồi móc vào một trong những cái móc đó. Chắc anh cũng biết đấy, tấm bảng trên vách là sổ đăng ký điểm danh.
    Sau đó chúng tôi đi đến các phòng học khác để đăng ký môn học khác nữa của Bí Ngô, cách đăng ký cũng giống nhau. Cô ta phải học bốn môn buổi sáng: đàn Shamisen, múa, nghệ thuật phục vụ trà và hát loại nhạc mà chúng tôi gọi là Nagawta. Bí Ngô rất bối rối, bực bội vì cô ta là học viên đến sau cùng so với các học viên khác trong lớp, đến nỗi khi chúng tôi về nhà để ăn sáng, cô ta thắt khăng quàng quanh áo thật mạnh. Nhưng khi chúng tôi mang giày vào, chúng tôi thấy một cô gái khác cỡ tuổi chúng tôi chạy băng qua vườn vào trường, tóc tai bù xù. Thấy thế Bí Ngô có vẻ bình tĩnh hơn trước.
    Chúng tôi ăn một tô cháo rồi vội vã quay trở lại trường ngay để Bí Ngô chuẩn bị học đàn Shamisen. Cô ta quỳ ở cuối lớp để ráp cây đàn. Nếu người nào chưa từng thấy cây đàn Shamisen, thì chắc họ rất thích thú khi thấy loại đàn này. Có người gọi là đàn ghi ta Nhật Bản, nhưng thực tế nó nhỏ hơn đàn ghi ta nhiều. Đàn có cổ nhỏ bằng gỗ, trên đầu có ba núm vặn lớn để lên dây. Thân đàn bằng gỗ mỏng, trên mặt thùng căng bằng da mèo như cái trống. Cây đàn có thể tháo rời ra thành từng mảnh để bỏ vào hộp hay túi xách để mang đi cho tiện. Bí Ngô ráp đàn rồi đàn, miệng thè lưỡi ra. Tôi rất tiếc phải nói rằng lỗ tai của cô ta rất tệ, những nốt nhạc cô đánh ra ồm ồm, lộn xộn như chiếc thuyền lắc lư trên sóng, không đúng với điệu nhạc người ta yêu cầu cô phải đàn. Một lát sau phòng học đông đúc, cô nào cô nấy ôm đàn trên tay, ngồi rải rác trong phòng như các viên kẹo sô cô la để đều trong hộp. Tôi cứ nhìn ra cửa, lòng mong sao thấy Satsu bước vào, nhưng vẫn không có chị.
    Một lát sau cô giáo đi vào. Cô giáo là một bà già nhỏ nhắn, giọng lanh lảnh. Tên cô là cô Mizumi. Trước mắt cô, chúng tôi gọi cô như thể, nhưng họ của cô Mizumi, đọc lên nghe gần như Nezami, mà nezami có nghĩa là “chuột”. Nhưng sau lưng cô, chúng tôi gọi cô là Nezami, cô Chuột.
    Cô Chuột quỳ xuống trên nệm, quay mặt xuống lớp và nhìn học viên với nét mặt nghiêm nghị. Khi học viên cùng cúi chào và chúc tụng cô xong, cô chỉ nhìn họ không nói một tiếng. Cuối cùng, cô nhìn lên tấm bảng trên vách và gọi tên học sinh đầu tiên.
    Cô gái đầu tiên này có vẻ tự tin. Sau khi lên trước lớp, cô ta cúi chào cô giáo rồi bắt đầu đàn. Vài phút sau cô Chuột bảo cô ngừng lại, phê bình rất gay gắt về khả năng của cô ta, rồi cô khép quạt lại, vẫy tay đuổi cô gái về chỗ. Cô gái cám ơn, lại cúi chào và đi về chỗ. Cô Chuột lại gọi học sinh tiếp theo.
    Các học sinh tiếp tục lên đàn hơn một giờ thì đến phiên Bí Ngô. Tôi thấy Bí Ngô lo sợ ra mặt và quả nhiên cô ta đàn hỏng bét, cái gì cũng sai. Trước hết cô Chuột chặn cô ta lại, lấy cây đàn giúp cô ta lên dây cho đúng. Rồi Bí Ngô đàn lại, nhưng các học viên ngơ ngác nhìn nhau vì họ không biết cô ta đang chơi bài gì. Cô Chuột đấm tay xuống bàn, ra lệnh cho họ phải nhìn tới phía trước, rồi cô giáo lấy quạt đánh nhịp cho Bí Ngô đàn theo. Nhưng cũng chẳng được gì cho nên cuối cùng cô Chuột phải nắm tay Bí Ngô để hướng dẫn cho cô ta đàn, nhất là cái cách cầm miếng gẩy đàn. Cô giáo gần như là bẻ gãy ngón tay của Bí Ngô khi tập cho cô cầm miếng gẩy đàn cho đúng cách, cuối cùng cô giáo đành thả tay ra, để miếng gẩy đàn rơi xuống chiếu, vẻ chán nản. Bí Ngô lượm lên rồi vừa khóc cô ta vừa quay về chỗ ngồi.
    Sau chuyện này tôi mới hiểu tại sao Bí Ngô rất lo lắng về việc mình là học sinh sau cùng. Vì sau Bí Ngô là đến phiên cô gái tóc tai bờm xờm chạy đến trường lúc chúng tôi trở về nhà ăn sáng. Cô ta ra trước lớp, cúi người chào. Cô Chuột nạt cô ta:
    - Đừng mất công chào hỏi làm gì! Nếu sáng nay cô đừng ngủ dậy trưa, thì chắc cô đã đến đúng giờ để học rồi.
    Cô gái xin lỗi và bắt đầu đàn, nhưng cô giáo không thèm để ý đến. Cô ta chỉ nói:
    - Sáng nào cô cũng ngủ dậy trưa. Làm sao tôi dạy cho cô được khi cô không thèm bận tâm đến đăng ký học đúng giờ như những cô khác? Đi về chỗ đi. Tôi không muốn dạy cho cô nữa.
    Lớp học bãi. Bí Ngô dẫn tôi ra trước cửa phòng, chúng tôi cúi chào cô Chuột. Bí Ngô nói:
    - Cháu xin phép giới thiệu với cô đây là Chiyo. Cháu xin cô rộng lòng chỉ dạy cho cô ấy vì cô ấy tài hèn sức mọn.
    Bí Ngô không có ý ngạo tôi, vì đây là cách ăn nói của mọi người khi họ muốn tỏ ra mình lễ phép. Chính mẹ tôi cũng thường nói năng như thế.
    Cô Chuột không nói gì một lát, cô nhìn tôi rồi cuối cùng cô lên tiếng:
    - Cháu trông thông minh đấy. Nhìn cháu ta cũng biết. Có lẽ rồi cháu cũng giúp được chị cháu học tập đấy.
    Dĩ nhiên cô ta nói Bí Ngô là chị tôi.
    - Mỗi sáng hãy đến móc tên lên bảng cho sớm – cô nói tiếp – Hãy giữ im lặng trong lớp. Tôi không tha thứ việc nói chuyện trong lớp đâu! – Và cô nhìn ra phía trước - Nếu cháu nghe lời như thế, ta sẽ cố sức dạy cho cháu.
    Nói xong cô giáo bảo chúng tôi đi chỗ khác.
    Khi đi giữa hành lang các lớp học, tôi cứ nhìn xem có Satsu không, nhưng không thấy chị ấy đâu hết. Tôi bắt đầu lo sợ rằng có lẽ không bao giờ tôi gặp lại chị ấy, và khi ấy mặt tôi quá buồn rầu đến nỗi một giáo viên sắp dạy cho lớp hoc đã bảo mọi người im lặng rồi cất tiếng hỏi tôi:
    - Này cô kia, cô lo lắng gì thế?
    - Ồ thưa bà không, tôi chỉ sơ ý cắn phải môi – tôi đáp, và để chứng minh cho mọi người thấy, - vì khi ấy các cô chung quanh đang quay mặt nhìn tôi – tôi cắn mạnh vào môi cho tươm máu.
    Trong các môn học khác của Bí Ngô, tôi thấy không khí nhẹ nhàng dễ chịu hơn môn học đàn vừa rồi. Trong lớp múa chẳng hạn, các học viên đều múa tập thể, không có ai đứng ngoài xem. Vả lại Bí Ngô múa không đến nỗi tệ, mặc dù các di chuyển của cô ta chưa được mềm mại, hài hòa. Sau đó là môn hát, môn này đối với cô ta có vẻ khó khăn vì thính giác của cô ta rất tệ, nhưng ở lớp này tất cả các học viên đều hát chung cho nên Bí Ngô có thể che dấu yếu điểm của mình bằng cách há miệng rất to mà hát thì nho nhỏ.
    Cứ cuối mỗi môn học là Bí Ngô giới thiệu tôi với giáo viên. Một giáo viên hỏi tôi:
    - Cô ở cùng nhà dạy kỹ nữ với Bí Ngô phải không?
    - Dạ phải, thưa bà, ở nhà dạy kỹ nữ Nitta – Nitta là họ của Bà Ngoại, của Mẹ và của Dì.
    - Thế là cô ở cùng chỗ với cô Hatsumono rồi .
    - Dạ thưa bà. Hiện giờ Hatsumono là geisha duy nhất trong nhà.
    - Tôi sẽ ra sức dạy cho cô hát để cô cũng trở thành geisha như ai!
    Nói xong cô giáo cười ha hả như thể là cô nói đùa, rồi cô ta ra dấu cho chúng tôi đi chỗ khác.

    Chương 5

    Chiều hôm ấy Hatsumono dẫn tôi đến Phòng Hộ Tịch ở Gion. Tôi cứ tưởng phòng này lớn lắm, nhưng té ra chỉ gồm mấy phòng âm u trải nệm rơm ở tầng hai của trường học, chật ních bàn ghế và sổ sách kế tóan, mùi thuốc lá hôi hám khắp nơi. Một người nhân viên nhìn chúng tôi sau màn khói và gật đầu mời chúng tôi vào phòng sau. Ở đây, tại một cái bàn chất đầy giấy tờ hồ sơ, một người đàn ông rất to lớn ngồi phía sau bàn, chưa bao giờ tôi thấy người nào to lớn như thế. Lúc ấy tôi không biết, nhưng ông ta đã một thời làm võ sĩ đô vật. Ông ta không phải là tay đô vật có hạng cho nên không có tên tuổi lưu lại hậu thế, nhưng ông ta vẫn thích được người ta gọi cái tên ông dùng lúc còn lên võ đài, đó là ông Awajiumi. Vài nàng geisha giản lược bớt tên ông thành Awaji, biệt danh của ông ta.
    Khi chúng tôi đi vào, Hatsumono tỏ ra rất duyên dáng. Lần đầu tiên tôi thấy cô ta làm thế, cô ta chào ông ấy:
    - Chào anh Awaji, - Nhưng cách cô ta kéo dài âm tiết ở giữa khiến cho tôi phải ngạc nhiên.
    Giọng nói của cô nghe như mắng ông ta. Khi nghe giọng cô, ông ta để bút xuống, hai cái má nâng cao lên tận tai, đó là kiểu cười của ông ta.
    - Chà…chào cô Hatsumono – ông ta đáp - nếu cô đẹp hơn tí nữa chắc tôi phải độn thổ mất.
    Giọng nói ông ta nghe khao khao, vì giới võ sĩ đô vật thường bị hư thanh quản do họ tông đầu vào cổ nhau.
    Awajiumi to như con hải mã, nhưng ông ta ăn mặc rất sang, ông mặc chiếc áo kimono có sọc nhỏ. Ông ta phụ trách chi tiêu tiền bạc ở Gion, và trong số tiền bạc này, có một ít chảy vào túi của ông. Không thể nói đây là hành động ăn trộm, mà phải nói là do quy chế như thế. Vì Awajiumi có vị trí quan trọng như thế, cho nên giới geisha muốn có lợi thì phải làm cho ông ta được hạnh phúc, nên ông ta nổi tiếng là người hào hoa phong nhã, áo quần bảnh bao.
    Hatsumono và Awajiumi nói chuyện với nhau một hồi lâu, rồi cô nói với ông ta rằng cô đến để đăng ký cho tôi vào học. Quả Awajiumi chưa nhìn đến tôi, nên khi nghe cô ta nói, ông quay cái đầu khổng lồ sang nhìn tôi. Nhìn một lát, bỗng ông ta đứng dậy đến mở một khung sáng trên cửa sổ bọc giấy cho ánh sáng tràn vào nhiều hơn.
    - Trời, chắc mắt tôi mờ rồi – ông ta nói – Đáng ra cô nên cho tôi biết sớm hơn rằng cô đem người đẹp đến đăng ký chứ. Cặp mắt cô ta có màu gương.
    - Gương à? – Hatsumono hỏi – Gương không có màu đâu anh Awaji ơi.
    - Dĩ nhiên nó có chứ, đó là màu xám long lanh. Khi người ta nhìn vào gương, người ta chỉ thấy bóng họ, nhưng tôi thì thấy được màu mắt đẹp của họ.
    - Thế ư? Màu ấy đối với tôi không đẹp. Có lần tôi trông thấy người ta vớt lên một người đàn ông chết trôi, cái lưỡi của ông ta trông giống như màu mắt của cô ta.
    - Có lẽ cô ta đẹp nên cô không thấy được màu mắt đẹp của cô ta đấy thôi – Awajiumi nói, mở sổ ra và cầm bút trên tay – Mà thôi, bây giờ ta đăng ký cho cô bé nào, Chiyo phải không? Chiyo, cho tôi biết cô họ gì và nơi sinh.
    Ngay khi tôi nghe những lời này, trước mắt tôi hiện ra cảnh chị Satsu đứng nhìn ông Awaijiumi, lòng bồi hồi lo sợ. Chắc chị ấy đã ở trong phòng này vào một lúc nào đấy; nếu tôi phải đến đăng ký thì chắc chắn chị ấy cũng phải đăng ký.
    - Họ tôi là Sakamoto - tôi đáp - Tôi sinh ở thị trấn Yoroido. Thưa ngài, chắc ngài đã nghe dến họ này một lần rồi, vì người ấy là chị tôi, tên Satsu, có phải không ạ?
    Tôi tưởng Hatsumono tức giận khi nghe tôi nói thế nhưng tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cô ta có vẻ thích thú khi nghe tôi hỏi.
    - Nếu cô ta lớn hơn cô, chắc cô ta đã phải đăng ký rồi – Awajiumi đáp – Nhưng tôi không gặp cô ta. Tôi đoán chắc cô ấy không ở tại khu vực Gion này.
    Bây giờ nụ cười của Hatsumono đối với tôi thật có ý nghĩa; cô ta đã biết trước ông Awaijiumi sẽ nói như thế. Nếu trước đây tôi còn nghi ngờ chuyện cô ta nói đến chị tôi, thì bây giờ tôi tin chắc chứ không nghi ngờ gì nữa. Ở Kyoto có nhiều khu vực huấn luyện geisha, nhưng tôi không biết hết, chắc Satsu ở trong một khu vực nào đấy, tôi quyết phải tìm cho ra.
    Khi tôi trở về nhà, Dì đang đứng đợi tôi để dẫn tôi đến nhà tắm ở cuối đường. Tôi đã đến đấy rồi, nhưng những lần trước tôi chỉ đi với các chị giúp việc lớn tuổi thôi, họ thường đưa cho tôi cái khăn tắm nhỏ và miếng xà phòng, rồi ngồi xổm trên nền lát ngói mà tắm chung với nhau. Dì thì tử tế hơn, Dì quỳ xuống và kỳ lưng cho tôi. Tôi lấy làm lạ là bà không giữ ý tứ gì hết, cặp vú dài thõng đung đưa qua lại như dây chỉ và hai cái chai. Thậm chí bà còn tình cờ quẹt vú vào vai tôi hai ba lần.
    Tắm xong bà dẫn tôi về nhà, mặc cho tôi chiếc kimono lụa đầu tiên, chiếc áo màu xanh sáng sủa có những đám cỏ màu lục ở gấu áo và hoa màu vàng nhạt chung quanh tay áo và trên ngực. Rồi bà dẫn tôi lên lầu đến phòng của Hatsumono. Trước khi vào phòng, bà dặn dò tôi thật kỹ rằng đừng quấy rầy Hatsumono hay đừng làm gì khiến cho cô ta nổi giận. Khi ấy tôi không hiểu việc này, nhưng bây giờ tôi biết lý do tại sao bà lo lắng đến thế. Chắc anh biết, khi thức dậy vào buổi sáng, geisha cũng như mọi phụ nữ khác thôi. Chỉ khi nào ngồi trước gương để tô son điểm phấn thật cẩn thận thì khi ấy mới thành geisha.
    Vào phòng tôi được chỉ ngồi bên cạnh Hatsumono, xa cách khoảng một cánh tay ở phía sau cô ta, ngồi ở đây tôi có thể thấy mặt của cô ta trong tấm gương nhỏ trên bàn trang điểm. Cô ta quỳ trên nệm, mặc chiếc áo dài vải bó sát hai vai, và lượm lên nửa tá bàn chải hóa trang các loại. Có cái rộng như cái quạt, có cái trông như chiếc đũa có đính một dúm lông mềm ở mút. Cuối cùng cô ta quay qua đưa tôi xem.
    - Đây là bàn chải của tôi – cô ta nói – Và cô có nhớ cái này không? - Cô ta lấy ở ngăn kéo bàn trang điểm ra một cái lọ nhỏ đựng một thứ bột rất trắng, cô ta huơ huơ cái lọ trên không cho tôi thấy. – Đây là đồ hóa trang mà tôi đã dặn dò cô không được đụng đến.
    - Tôi không đụng đến cái lọ ấy đâu – tôi nói.
    Cô ta hít hít cái lọ đậy kín nắp nhiều lần và nói:
    - Không, tôi tin cô không đụng đến - Đoạn cô ta để cái lọ xuống và lấy lên ba chiếc đũa dùng tô màu. Cô ta xòe bàn tay ra cho tôi thấy các thứ ấy.
    - Thứ này dùng tô màu, cô nhìn cho kỹ đi.
    Tôi lấy một chiếc đũa tô màu lên xem. Đũa to bằng ngón tay của một đứa trẻ sơ sinh, nhưng cứng và láng như đá, cho nên nó sẽ không để lại trên da tôi màu sắc gì hết. Một đầu đũa được bọc bằng một miếng lá bạc mỏng dùng để xoa các vết lốm đốm trên mặt.
    Hatsumono lấy ra một cái que khác mà tôi thấy giống như một nhánh củi bị đốt cháy ở đầu.
    - Đây là thanh củi khô lấy ở cây ngô đồng, rất dễ thương – cô ta nói – dùng để vẽ lông mày. Và đây là sáp – cô ta mở gói giấy lấy ra hai thanh sáp đã dùng một nửa cho tôi xem.
    - Bây giờ cô đã biết tại sao tôi đưa cho cô xem những thứ này chưa?
    - Để tôi học cách cô trang điểm ra sao.
    - Trời ơi, không phải! Tôi đưa cho cô xem để cô thấy rằng không có chuyện ảo thuật dính dáng vào đây. Cô thật quá tội nghiệp! Vì chuyện này có nghĩa là chỉ trang điểm thôi không đủ để biến cô Chiyo tội nghiệp thành một tuyệt thế giai nhân.
    Hatsumono quay mặt nhìn vào gương và vừa hát nho nhỏ vừa mở nắp cái lọ kem màu vàng nhạt. Chắc anh không tin khi nghe tôi nói thứ kem này được làm bằng phân của chim sơn ca, nhưng sự thực là thế. Thời ấy, nhiều cô geisha dùng nó để làm kem bôi mặt vì người ta tin rằng chất này rất tốt cho da; nhưng nó rất đắt đến nỗi Hatsumono chỉ dám chấm vài chấm quanh mắt và miệng mà thôi. Rồi cô ta ngắt một chút nơi thỏi sáp, bóp trong hai ngón tay cho mềm rồi thoa lên mặt lên cổ và lên ngực. Cô ta lau hai bàn tay vào một miếng giẻ một lát cho thật sạch, rồi lấy cái bàn chải lớn thấm vào dĩa nước cho ướt, xát lên chất hóa trang cho đến khi chất đó nhão ra trắng toát. Cô ta phết chất nhão này lên mặt lên cổ nhưng chừa cặp mắt cũng như vùng quanh môi và mũi. Nếu anh đã thấy trẻ con cắt những cái lỗ trên giấy để làm mặt nạ, thì anh sẽ tưởng tượng ra được mặt Hatsumono như thế đấy, cho đến khi cô ta thấm ướt cái bàn chải nhỏ hơn để tô vẽ lên các chỗ còn hổng ấy. Sau đó trông cô ta như thể bị té úp mặt vào thùng bột gạo, vì mặt cô trắng hếu. Trông cô giống như con quỷ, nhưng dù thế, tôi vẫn ganh với cô ta và thấy xấu hổ. Vì tôi biết vài giờ nữa thôi, đàn ông sẽ say sưa nhìn vào mặt cô ta, còn tôi ở nhà, người rịn mồ hôi nhớp nhúa và tầm thường.
    Sau đó cô ta thấm ướt cái đầu que tô màu, phết son lên hai má. Suốt tháng đầu tiên ở trong nhà dạy kỹ nữ, tôi đã nhìn thấy cô ta trang điểm nhiều lần rồi; hễ bất cứ khi nào nhìn lén được cô ta là tôi nhìn, miễn không lộ liễu là được. Tôi để ý thấy cô ta thay đổi màu sắc trên hai má, tùy vào màu áo kimono cô ta mặc hôm đó. Chuyện này không có gì lạ, nhưng có điều là khi ấy tôi không biết, mà phải nhiều năm sau tôi mới rõ là cô hay chọn màu đỏ nhiều hơn các màu khác. Tôi không thể nói tại sao cô ta thích màu ấy, nhưng màu này thường được người ta nghĩ đến màu máu. Nhưng Hatsumono không điên, cô ta biết cách tô điểm mày mặt cho xinh đẹp.
    Khi cô ta tô son xong, cô ta vẫn chưa có lông mày hay môi. Sau đó cô để mặt mình trắng như cái mặt nạ kỳ lạ như thế và nhờ bà Dì vẽ hộ cho sau gáy của cô. Nếu anh cần biết tôi xin cho anh biết đôi điều về cái cổ của người đàn bà Nhật. Số là đàn ông Nhật thường thích cái cổ và bụng của đàn bà Nhật Bản, như kiểu người đàn ông phương Tây thích chân phụ nữ vậy. Vì thế giới geisha thường mặc áo kimono có cổ thật thấp phía đàng sau, đến nỗi để lộ ra mấy đốt xương sống phía trên hết. Tôi nghĩ việc này giống như phụ nữ ở Paris mặc váy ngắn vậy. Bà Dì tô lên cổ của Hatsumono một cái hình được gọi là Sanbon-ashi, nghĩa là ba chân. Cái hình trông rất vui vì người ta có cảm giác như thể họ đang nhìn làn da cổ qua ba cái cọc nhỏ vót nhọn của cái hàng rào sơn trắng. Phải đợi đến mấy năm sau tôi mới hiểu ra hình vẽ này có hiệu quả gợi dục nơi đàn ông, nhưng nhìn chung thì nó giống như người phụ nữ nhìn ra bên ngoài qua những kẽ hở của ngón tay mình. Thực ra người geisha để trống mép da chạy quanh chân tóc của mình để chứng tỏ hành động hóa trang của mình là việc nhân tạo, chẳng khác gì cái mặt nạ người ta đeo trong vở kịch thần Noh. Khi người đàn ông ngồi bên cạnh cô ta, thấy cái mặt của cô trang điểm giống như cái mặt nạ ông ta liền khao khát được trông thấy làn da thật bên dưới.
    Trong lúc Hatsumono rửa bàn chải , cô ta nhìn mặt tôi trong gương nhiều lần. Cuối cùng cô ta nói:
    - Tôi biết cô nghĩ gì rồi. Cô nghĩ cô sẽ không bao giờ đẹp như thế này. Đấy, sự thật là như thế.
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này