Hình ảnh hoa xoan trong thơ

Hoài An

Điều hành viên
Thành viên BQT
#1
1.

Về vùng quê bắc Bộ vào những dịp giữa hay cuối xuân, sẽ bắt gặp ở khắp nơi những cây xoan, hàng xoan cao vút với những chùm hoa tím nhỏ li ti đong đưa trong gió xuân. Nổi bật lên giữa màu xanh non của cành lá, trong những tia nắng ngọt đầu mùa, những chùm hoa xoan như gợi lên trong tâm trí bao người về hình ảnh mộc mạc, giản dị, dân dã của quê hương.

Cách đây hơn sáu thế kỷ, hình ảnh hoa xoan đã hiện diện trong thơ Nguyễn Trãi (1380-1442). Mộ xuân tức sự là bài thơ chữ Hán hay, giàu xúc cảm, gợi nhiều tâm trạng, được viết khi Nguyễn Trãi đã cáo quan về Côn Sơn ở ẩn.

Sống gần gũi thiên nhiên với tấm lòng rộng mở, xa lánh những bon chen, đố kỵ chốn quan trường, Nguyễn Trãi đã hòa mình vào với đồng ruộng, thiên nhiên, làm bạn với cỏ cây hoa lá. Và những hình ảnh thân quen, mộc mạc, dân dã của đồng quê như cọng rau muống, cỏ núc nác, hoa lục bình… đã đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dung dị.

Hình ảnh hoa xoan là một hình ảnh đẹp xuất hiện ở những dòng cuối của Mộ xuân tức sự, gợi nhiều suy cảm về một loài hoa cuối xuân với những xúc cảm nhớ xuân, tiếc xuân đong đầy trong suy nghĩ của một người nặng tình với dân với nước.

Được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, niêm luật chặt chẽ nhưng từng câu, từng từ của Mộ xuân tức sự lại rất giản dị như ngôn ngữ đời thường.

Hai dòng đầu, là lời tâm sự của thi nhân về cuộc sống nơi thôn dã, bỏ lại sau lưng những buồn vui chốn quan trường. Đó sự nhàn tản, lặng lẽ của một nhà Nho phong lưu ngày ngày đắm mình trong thư phòng, chạy trốn cuộc đời trong những trang sách:

Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

(Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn

Khách tục không ai bén mảng gần)

Nhưng ẩn sâu sau vẻ nhàn tản, “nhàn thân” lại là những tâm sự, suy tư đầy dằn vặt, day dứt của bậc sĩ phu, quân tử trước vận nước. Bao trùm lên hai dòng thơ là nỗi cô đơn, trống trải.

Sau vẻ “nhàn nhã”, không vướng bụi trần là những tâm sự thức thời, những mong ngóng, khát vọng được “hành đạo” giúp đời. Vì thế về với chốn an bình, “an bần lạc đạo” nhưng những tiếng vọng của “chim Đỗ Quyên”, tiếng vọng của non sông, đất nước vẫn canh cánh, thổn thức bên lòng:

Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai.

(Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan)

Như vậy với Nguyễn Trãi, dù đã lui về ở ẩn nhưng với tấm lòng ưu thời, mẫn thế, nhạy cảm với những biến chuyển của thời cuộc, cho nên những chuyển động của thiên nhiên dù tinh tế, nhẹ nhàng đến đâu cũng để lại trong ông những xao động, những tâm tình, xúc cảm.

Trong cái lặng lẽ, tĩnh mịch của không gian, trong cái ngưng đọng của thời gian “nhàn”, tiếng chim Đỗ Quyên vang lên báo hiệu sự sắp ra đi của nàng xuân như đưa ông trở về với hiện tại với nỗi nhớ thương đất nước khôn nguôi.

Hình ảnh chim Đỗ Quyên gợi nhắc đến điển tích vua nhà Thục mất nước biến thành chim Đỗ Quyên, cứ đến cuối xuân đầu hè, tiếng chim kêu thảm thiết như đang nhớ Tổ quốc, quê hương. Hai dòng thơ cuối của Mộ xuân tức sự thiên về tả cảnh, vẽ nên bức tranh xuân đong đầy cảm xúc.

Đó là sự tiếc xuân, là lòng nhớ thương quê hương đất nước, da diêt. Mộ xuân tức sự ẩn chứa bi kịch, nỗi niềm của một nhân cách lớn. khi thi nhân ý thức rõ về sự tuần hoàn, chảy trôi bất tận của thời gian trong khi bản thân chưa làm được gì cho dân cho nước!

Hình ảnh hoa xoan nở đầy sân trên nền cảnh mưa bụi là một hình ảnh đẹp, thi vị, lãng mạn nhưng đượm buồn. Nỗi buồn và sự cô đơn tỏa ra từ trong sâu thẳm tâm trạng của thi nhân nhuốm lên cảnh sắc, sự vật. Như vậy, sau cái hình thức bên ngoài có vẻ nhàn nhã, phong lưu là mối cảm hoài của một tấm lòng luôn hướng về dân về nước, “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”.

Nếu ba câu thơ đầu diễn tả nỗi lòng, tâm trạng của thi nhân thì câu thơ cuối vẽ ra bức tranh thiên nhiên cuối xuân giàu màu sắc, hình ảnh mà đọng lại trong ấn tượng người đọc là hình ảnh của loài hoa thôn quê, mộc mạc, giản dị: Hoa xoan - một loài hoa tượng trưng cho mùa xuân nơi đồng quê.

Đó là loài hoa nhỏ sắc trắng tím với hương nồng thoang thoảng, đặc trưng, từng in sâu trong kí ức của biết bao người. Hoa xoan là một điểm nhấn, là “thi nhãn” của toàn bài. Với Mộ xuân tức sự, con người Nguyễn Trãi có thể “suốt ngày lặng lẽ khép phòng văn” nhưng tâm hồn và tấm lòng yêu nước của ông thì luôn hướng ngoại, vẫn nghe rõ tiếng Cuốc kêu, vẫn cảm nhận được sắc xuân, tuổi trẻ dù xuân sắp qua, xuân đã muộn.

Sự xuất hiện của hoa xoan cho thấy tình yêu thiên nhiên da diết và tinh thần lạc quan, tin yêu cuộc sống không bao giờ vơi cạn.

Bài thơ kép lại bằng những hình ảnh: mưa bụi, hoa xoan như khẳng định sức sống bất diệt của thiên nhiên, niềm tin của Nguyễn Trãi vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

2.

Tiếp nối mạch nguồn thơ ca truyền thống viết về thiên nhiên, làng quê với những hình ảnh thân quen, Nguyễn Bính (1918-1966) - một thi sĩ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới (1932-1942) cũng đã đưa vào trong thơ những hình ảnh rất đỗi mộc mạc, giản dị như rặng cau, vườn trầu, hoa chanh, trái bưởi, lá sen, ao bèo…, đặc biệt là hình ảnh hoa xoan.

Trong thơ Nguyễn Bính, những hình ảnh đẹp của thiên nhiên thường được đan cài, quyện hòa và gắn liền với những câu chuyện tình của đôi lứa yêu nhau vì thế thiên nhiên thường nhuốn màu tâm trạng, như những biểu tượng đẹp của lòng người. Mưa xuân là một thi phẩm đặc sắc của ông viết về những rung động đầu đời của cô gái thôn quê mới chớm tuổi yêu.

Bên cạnh những hình ảnh thân thuộc như khung cửi, con đê, làng Đặng, thôn Đoài, hội chèo… thì hình ảnh hoa xoan cũng đã góp phần chuyển tải những tâm trạng, những điều thầm kín khó nói của người con gái “lần đầu rung động những thương yêu”.

Sau khổ thơ đầu mang tính chất giới thiệu về “gia cảnh, nghề nghiệp” và tâm trạng của người thiếu nữ, Nguyễn Bính đã vẽ lên lên bức tranh xuân đầy thi vị:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

Bằng lối nói dân gian, giàu hình ảnh, Nguyễn Bính rất tài tình trong việc tạo dấu ấn thời gian, vừa mang tính phiếm chỉ, vừa gợi cái cụ thể, xác định: Bữa ấy, tối nay. Và đặc biệt, nhà thơ đã tạo ra khung cảnh của bức tranh cuối xuân với những hình ảnh tiêu biểu, đặc trưng: mưa xuân, hoa xoan và những đêm hát chèo. Những hình ảnh này tạo nên một không khí đượm sắc xuân với những hy vọng, mong chờ.


Hoa xoan trong thơ

Dù không trực tiếp đề cập đến tâm trạng, mong ước của cô gái nhưng những tín hiệu thiên nhiên, đất trời như gieo vào tâm trí cô những xúc cảm bồi hồi, mong ngóng mà đêm hát chèo của làng Đặng chính là tín hiệu vui, nơi hội ngộ của những đôi lứa hẹn hò, tình tự, giao duyên, kết bạn.

Miêu tả thiên nhiên để khắc họa tâm trạng là bút pháp quen thuộc của các thi nhân, trong khổ thơ này những hình ảnh của thiên nhiên gợi nhiều cảm xúc, diễn tả tinh tế tâm trạng người thiếu nữ.

Những hạt mưa bay, những cánh hoa xoan rụng vơi đầy, tác động mạnh vào xúc cảm yêu của người con gái đang mong ngóng, chời đợi mối tình đầu.

Một chút lành lạnh của mưa bay, cái nhịp chảy trôi của thời gian qua những cánh hoa xoan, âm thanh rộn rã của tiếng trống chèo, tạo nên những rạo rực, bồn chồn, xôn xao trong lòng người thiếu nữ.

Mưa xuân được kết cấu như một bản ký sự về mối tâm tình của cô gái thôn quê, một câu chuyện tình đong đầy những cung bậc cảm xúc, từ mong ngóng, chờ đợi, hy vọng, bồi hồi, xốn xang đến những tiếc nuối, buồn thương, cô đơn và rồi là những đợi chờ, hy vọng mong manh.

Trong đêm hát chèo, người con gái không tìm gặp được chàng trai đã hẹn ước, cô “lầm lụi” ra về trong nỗi buồn và sự cô đơn. Những hạt mưa xuân khiến lòng cô thêm lạnh buốt, con đường đê trở về nhà cứ dài dằng dặc, và những cánh hoa xoan rơi rụng, giập nát dưới chân giày, gợi bao cảm giác buồn thương, tiếc nuối:

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”.

Qua miêu tả những biến chuyển của thiên nhiên, Nguyễn Bính khéo léo diễn tả một cách tinh tế những cung bậc cảm xúc trong lòng người thiếu nữ. Nếu những khổ đầu là hy vọng, hồi hộp mong chờ, khát khao gặp gỡ thì những khổ cuối là sự cô đơn, bẽ bàng, tủi hổ.

Mùa xuân qua đi thật nhanh, mưa xuân đã ngại bay, hoa xoan đã nát và những lời nhắc của mẹ như càng khắc sâu thêm nỗi buồn và sự thất vọng của người con gái đang yêu. Sự lặp lại của hoa xoan với những tính từ chỉ sự đối lập, nói lên những chuyển biến tâm trạng, những cảm xúc thầm kín, khó nói của nhân vật trữ tình.

Hình ảnh hoa xoan đẹp nhưng mong manh, trước đêm hội chèo thì phơi phới hương xuân, tình xuân, sau đêm hội thì hoa đã nát, đã tàn. Hình ảnh “Hoa xoan đã nát dưới chân giày” cho thấy sự ra đi của mùa xuân, sự lỡ làng của mối tình đầu với những buồn thương, hờn giận, trách móc của người con gái thôn quê.

Nhưng dù xuân đã cạn, mưa ngại bay, hoa xoan đã nát, hội chèo đã tan, người thương chưa gặp thì cô gái vẫn không thôi ước mong chờ đợi gặp gỡ vào mùa xuân sau, vào những đêm hội chèo kế tiếp:

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ chèo Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng hát tối nay?

Những lời nhắn gửi của cô gái thật thân thương, nói lên tâm hồn trong sáng, thơ ngây, rộng lượng và bao dung với niềm tin son sắt.

Bằng những vần thơ mộc mạc, những hình ảnh quen thuộc, gần gũi, Nguyễn Bính đã khắc họa và “kể lại” thành công câu chuyện tình với nhiều cung bậc cảm xúc của người con gái đang yêu, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người thiếu nữ thôn quê thuần hậu.

3.

Nếu Nguyễn Bính được mệnh danh là thi sĩ của đồng quê, nhà thơ chân quê, tình quê với những bài thơ mang đậm phong vị ca dao, dân ca từ hình ảnh, nội dung, chất liệu đến phương thức biểu hiện thì với nữ sĩ Anh Thơ (1921-2005), những sáng tác của bà trong tập Bức tranh quê (1941) cũng đã đem đến cho người đọc những cảm xúc mới lạ, độc đáo về những hình ảnh rất đỗi quen thuộc của quê hương, đồng nội.

Cùng với Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ là một trong những gương mặt xuất sắc của phong trào Thơ Mới với dòng thơ viết về phong cảnh và con người làng quê Việt Nam. Chiều xuân là một thi phẩm đặc sắc của nữ thi sĩ, vẽ ra bức tranh chiều xuân với nhiều hình ảnh, màu sắc đặc trưng về thiên nhiên và con người vùng quê Bắc Bộ trong một không khí tràn ngập sức xuân:

Mưa bụi đổ êm êm trên bến vắng

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Được viết bằng thể thơ tám chữ, nhịp đều đều, chậm rãi, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh chiều xuân thật đẹp đẽ, thi vị, lãng mạn với những hình ảnh quen thuộc, đặc trưng: mưa bụi, hoa xoan, con đò, bến nước, dòng sông… Trong cái lành lạnh của mưa xuân “đổ” từng làn nhẹ nhàng xuống bến vắng, cảnh vật dường như im lìm, tĩnh lặng, trong trẻo, đượm buồn: bến vắng, đò lười, quán im lìm, mưa êm êm…

Nét đặc sắc trong khổ thơ là tác giả đã có sự kết hợp một cách nhịp nhàng, hài hòa những động từ và tính từ chỉ trạng thái cùng thủ pháp nhân hóa, giàu sức gợi hình, lấy cái chuyển động để miêu tả cái tĩnh tại, yên ắng, tạo ra bức tranh xuân như một bức tranh thủy mặc, gần gũi, sinh động, nên thơ.

Lựa chọn thời điểm buổi chiều trong ngày mưa bụi, trong không gian bến vắng, cảnh sắc thiên nhiên trong khổ đầu của Chiều xuân như “ ngưng” lại bởi sự thưa vắng của hình bóng con người. Trong không khí xuân ấy, con người thường hội họp, sum vầy bên gia đình, người thân, họ tạm nghỉ ngơi sau những ngày lao động, và vì thế thiên nhiên, cảnh vật cũng như đang ngơi nghỉ để tận hưởng sắc xuân, tình xuân.

Trong bức tranh chiều xuân, một trong những hình ảnh gợi nhiều cảm xúc, ấn tượng cho người đọc là hình ảnh những chòm hoa xoan tím. Câu thơ “Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” góp phần xua tan cảm giác tĩnh tại, thanh vắng của thiên nhiên, đất trời và lòng người.

Cái rụng tơi bời của hoa xoan cho thấy tín hiệu xuân sắp qua, và thi nhân đã kịp ghi lại những khoảng khắc đẹp nên thơ nơi bến vắng gợi nhiều suy tư, xúc cảm. Động từ “rụng tơi bời” rất mạnh nhưng những cánh hoa xoan bé nhỏ, li ti không đủ sức làm khuấy động không gian trước cảnh “đò biếng lười nằm”, “quán tranh đứng im lìm”.

Hình hảnh hoa xoan rụng hô ứng với mưa bụi đổ là những nét điểm xuyết cho bức tranh xuân thêm thi vị, lãng mạn, trữ tình.

Chiều xuân gồm có ba khổ, mỗi khổ là một nét vẽ, một bức tranh nhỏ trong bức tranh chung của mùa xuân: đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn và cả sự cô đơn, trống vắng!

Là nữ thi sĩ với những rung cảm tinh tế, gắn bó sâu nặng với làng quê, những vần thơ của Anh Thơ đã giúp người đọc trở lại gần hơn với thiên nhiên, với những hình ảnh gắn bó với mỗi người từ thuở ấu thơ. Chiều xuân là bài thơ mang âm điệu trầm, da diết, gieo vào lòng người đọc những cảm xúc mới về vùng quê lặng lẽ, yên bình.
Nguồn: Báo Giáo dục & Thời đại
 

Bình luận bằng Facebook

Top