Giúp học sinh làm tốt nội dung mới trong đề thi Văn THPT quốc gia

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 12/1/16.

Lượt xem: 242

  1. Hoài An Điều hành viên

    Để làm bài tốt phần này đòi hỏi học sinh phải có một nền tảng kiến thức cơ bản tương đối vững vàng và có năng lực vận dụng những kiến thức đó vào việc giải quyết những yêu cầu của đề.

    Điểm danh những nội dung kiến thức nền tảng

    Theo kinh nghiệm của thầy giáo Nguyễn Văn Tập (Trường THPT Chà Cang, Điện Biên), để giúp học sinh hình thành năng lực đọc hiểu, giáo viên phải cung cấp, nói đúng hơn là giúp các em ôn tập củng cố lại một hệ thống những kiến thức cơ bản đóng vai trò làm nền tảng.

    Cụ thể là: Kiến thức về từ loại (khái niệm, phân loại từ); kiến thức về câu (khái niệm, phân loại câu); kiến thức về các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, nói giảm, nói tránh, điệp từ, điệp ngữ, phép đối, ...;

    Kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ (phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ);

    Kiến thức về các hình thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ).

    Khi củng cố cho học sinh những kiến thức trên, giáo viên phải làm sao học sinh ghi nhớ một cách bản chất, tránh ghi nhớ kiến thức lí thuyết quá nhiều mà không hiểu được bản chất.

    Phương pháp làm bài đọc hiểu trong đề thi THPT quốc gia

    Theo phân tích của thầy Nguyễn Văn Tập, cấu trúc của phần thi đọc hiểu trong cấu trúc đề thi THPT quốc gia gồm hai phần:

    Phần 1: Đưa ra ngữ liệu để đọc hiểu (văn bản hoàn chỉnh thường rất ngắn gọn, hoặc là những trích đoạn), yêu cầu học sinh phải đọc kĩ văn bản.

    Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là văn bản văn học (thơ/ văn xuôi), có thể văn bản đó nằm trong chương trình chính khóa/ đọc thêm thậm chí là những văn bản rất mới hoàn toàn xa lạ với học sinh. Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là những văn bản nhật dụng trong đời sống hàng ngày.

    Phần 2. Đưa ra các lệnh yêu cầu các em phải thực hiện (các câu hỏi) với ba mức độ nhận thức: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng (vận dụng thấp và vận dụng cao).

    Nhận diện phương thức biểu đạt là một nội dung quen thuộc, thường gặp trong các đề thi đọc hiểu. Ví dụ: Những hình thức biểu đạt hoặc hình thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?

    Để trả lời được câu hỏi này, học sinh phải được cung cấp lại những kiên thức về 6 phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính công vụ. Mỗi một hình thức biểu đạt nhằm hướng tới một mục đích nhất định.

    Thí sinh cần lưu ý: Không phải mỗi văn bản chỉ có một hình thức biểu đạt duy nhất, mà thường kết hợp các hình thức biểu đạt khác nhau nhưng bao giờ cũng có một phương thức là chủ đạo.

    Về nhận diện các phong cách ngôn ngữ, theo thầy Nguyễn Văn Tập, trong chương trình THPT toàn cấp học sinh đã được học tất cả 6 phong cách ngôn ngữ đó là: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính. Mỗi phong cách ngôn ngữ có đặc điểm riêng về phong cách.

    Tuy nhiên, trong thực tế, ngữ liệu để dùng đọc hiểu không chỉ được trình bày theo một phong cách ngôn ngữ duy nhất mà thường kết hợp nhiều phong cách khác nhau. Ví dụ, phong cách ngôn ngữ chính luận và báo chí thường đi kèm với nhau; phong cách nghệ thuật và sinh hoạt cũng có thể đi kèm với nhau. Đề thi tốt nghiệp năm 2014 là một minh chứng tiêu biểu. Vì vậy khi gặp những văn bản loại này học sinh phải hết sức chú ý, nếu không sẽ không được điểm tối đa.

    Về nhận diện hình thức ngôn ngữ, thí sinh lưu ý, có ngôn ngữ trực tiếp (ngôn ngữ nhân vật – ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật với nhau trong truyện, hoặc chỉ là những lời độc thoại nội tâm của nhân vật; ngôn ngữ của người kể chuyện - ngôn ngữ trần thuật); ngôn ngữ nửa trực tiếp: Ngôn ngữ đan xen giữa lời của nhân vật với lời của người kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật nửa trực tiếp)…

    Nhận diện các phương thức trần thuật, gồm: Trần thuật từ ngôn thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện; trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện tự giấu mình; trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn và lời kể theo giọng điệu của nhân vật trong tác phâm.

    Nhận diện các phép liên kết hình thức, gồm: Phép lặp từ ngữ; đồng nghĩa /trái nghĩa/liên tưởng; phép thế; phép nối.

    Nhận diện các kiểu câu gồm: Câu chia theo mục đích nói; câu chia theo cấu trúc/chức năng ngữ pháp

    Nhận diện các biện pháp tu từ, gồm: So sánh; ẩn dụ; hoán dụ; nhân hóa; nói giảm, nói tránh; cường điệu; điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ngữ pháp; phép đối; dùng từ láy.

    Nhận diện các thể thơ gồm: Ngũ ngôn (mỗi câu thơ chỉ có năm tiếng); thất ngôn (mỗi câu thơ có bảy tiếng); lục bát (một câu sáu tiếng, một câu tám tiếng tạo thành một cặp); lục bát biến thể (thường biến thể ở câu tám có thể biến thể thành 9 đến 13 tiếng); song thất lục bát (hai câu 7 tiếng và một cặp lục bát); tự do (số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều nhau).

    Nhận diện các thao tác lập luận, gồm: Thao tác giải thích, thao tác chứng minh, thao tác phân tích, thao tác so sánh, bình luận, thao tác lập luận bác bỏ.

    Nhận diện phương pháp lập luận, gồm: Phương pháp diễn dịch (câu chốt, câu nêu ý khái quát đạt ở đầu đoạn); phương pháp quy nạp (câu chốt, câu nêu ý khái quát đạt ở cuối đoạn); phương pháp song hành (không có câu chốt, câu chủ đề, tất cả các câu cùng tập trung hướng tới một chủ đề chung); phương pháp móc xích; phương pháp tổng - phân - hợp (có hai câu chốt nằm ở đầu và cuối đoạn nhưng hai câu này không giống nhau).

    Cấp độ thứ hai của các đề văn đọc hiểu văn bản là thông hiểu. Ở cấp độ này đề yêu cầu phải trả lời được các câu hỏi sau: Nội dung chính của văn bản? Tóm tắt nội nội dung của văn bản? Với câu hỏi này, học sinh cần đọc kĩ văn bản, có thể dựa vào nhan đề và những câu văn mở đầu và kết thúc của văn bản để xác định nội dung chính.

    Nếu văn bản không có nhan đề thì đề bài có thể yêu cầu đặt nhan đề phù hợp với nội dung; trả lời được các câu hỏi vì sao; phân tích được ý nghĩa và tác dụng của việc ngắt nhịp (nếu văn bản ngữ liệu là văn bản thơ)

    Cấp độ vận dụng đòi yêu cầu học sinh phải trả lời được được những câu hỏi sau: Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản? Ý nghĩa của một số từ ngữ đặc biệt trong văn bản, thường là những từ ngữ được dùng với nghĩa chuyển, nghĩa hàm ẩn chứ không phải là những từ ngữ chỉ có nghĩa trực tiếp. Viết một đoạn văn liên quan đến nội dung của văn bản, hoặc viết đoạn văn thể hiện suy nghĩ riêng của bản thân.


    Trước đây rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh, giáo viên thường bắt đầu bằng việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu từng văn bản một. Cách làm này rất mất thời gian, bởi vì những văn bản dùng làm ngữ liệu đọc hiểu văn bản rất phong phú đa dạng giáo viên không thể dạy hết cho học sinh được.



    Với hướng dẫn như trên, giáo viên không phải mất nhiều thời gian hướng dẫn học ính giải từng đề cụ thể mà chỉ cung cấp cho các em “chìa khóa” để đọc hiểu văn bản.



    Chìa khóa đó là một hệ thống những kiến thức, kĩ năng cần thiết mà học sinh phải có để sử dụng trong qua trình đọc hiểu một văn bản thông thường. Khi học sinh đã có một nền tảng kiến thức cơ bản thì giáo viên chỉ cần mình họa bằng một số đề cơ bản. Từ đó các em hoàn toàn có thể chủ động, tự tin khi đứng trước bất cứ một đề đọc hiểu văn bản nào.

    Thầy Nguyễn Văn Tập
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này