Giờ Hóa học, hiểu sâu về… thành ngữ

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 22/9/15.

Lượt xem: 198

  1. Hoài An Điều hành viên

    [​IMG]Giờ thực hành môn Hóa học của học sinh Trường THPT chuyên Hùng Vương (Phú Thọ)


    Vai trò mới của giáo viên

    Theo thầy Lượng, thực tế giáo viên đã dạy tích hợp liên môn từ lâu rồi nhưng chưa thực sự đi sâu và chưa có khái niệm tên gọi cụ thể. Với cách dạy này, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học. Vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học.

    Thầy Lượng phân tích: Trong quá trình học tập ở nhà trường, các em sẽ được học các môn học bao gồm các môn thuộc lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và các môn thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội.

    Các em sẽ tự rút ra được kiến thức giữa các bộ môn trong cùng nhóm có quan hệ với nhau và bổ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn như: Giữa Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội cũng có quan hệ gắn bó với nhau.

    Theo đó, giáo viên có thể giải thích một số câu tục ngữ, thành ngữ bằng những kiến thức khoa học cụ thể mà các em đã được học, như vậy sẽ làm cho học sinh cảm thấy yêu thích và hứng thú hơn rất nhiều.

    Ví dụ: Khi giải thích câu thành ngữ: “Nước chảy đá mòn”, giáo viên có thể liên hệ với vấn đề này ở phần “muối các bon nát”. Cụ thể: Như chúng ta đã biết, thành phần chủ yếu của đá là CaCO3 (Canxi cacbonat). Khi gặp nước mưa và khí CO2 (Cacbonic) trong không khí, CaCO3 sẽ chuyển hoá thành Ca(HCO3)2 (muối Canxit hidrocacbonat là muối tan).

    Theo phương trình hóa học sau: CaCO3+CO2+H2O = Ca(HCO3)2. Tức là, khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lý dịch chuyển cân bằng thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước đã làm cho đá bị bào mòn dần.

    “Do vậy, nếu giáo viên hiểu được điều này và biết vận dụng kiến thức liên môn thì sẽ giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa xưa, làm cho Hóa học trở nên gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường” – Thầy Lượng trao đổi.

    Tạo tình huống để học sinh vận dụng xử lý

    Cũng theo thầy Lượng, khi tổ chức giờ dạy theo hướng tích hợp, liên môn đối với môn Hóa học, giáo viên cần hiểu rõ việc tổ chức giờ học trên lớp là tiến trình thực thi bản kế hoạch phối hợp hữu cơ hoạt động của giáo viên và học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp lí, khoa học; trong đó giáo viên giữ vai trò, chức năng tổ chức, hướng dẫn, định hướng chứ không phải truyền thụ áp đặt một chiều.

    Học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ, nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến hành hoạt động tiếp cận, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức.

    Ngoài ra, khi tổ chức hoạt động đọc hiểu vận dụng kiến thức liên môn trên lớp, giáo viên phải chú trọng mối quan hệ giữa học sinh và nội dung dạy học, phải coi đây là mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong cơ chế giờ học.

    Muốn vậy, giáo viên phải từ bỏ vai trò, chức năng truyền thống là truyền đạt kiến thức có sẵn cho học sinh, còn học sinh không thể duy trì thói quen nghe giảng, ghi chép, học thuộc, rồi “làm bài” theo lối tái hiện, sao chép, làm thui chột dần năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tự đọc, tự tìm tòi, xử lí thông tin, tổ chức các kiến thức một cách sáng tạo.

    Thiết kế giáo án đạt chuẩn

    Tuy nhiên để có một tiết dạy Hóa học theo hướng tích hợp liên môn đạt chất lượng, theo thầy Lượng, giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác.

    Phải xem xét, rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp.

    Nội dung của phương pháp dạy tích hợp, liên môn cũng yêu cầu giáo viên cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

    Đặc biệt khi thiết kế giáo án theo chủ đề tích hợp liên môn, giáo viên cần lưu ý: Đó không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho học sinh thực hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực, nhân cách theo mục đích giáo dục và giáo dưỡng của bộ môn.

    Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của học sinh.

    Hai là, một hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo.

    Ngoài ra, khi thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn, giáo viên cần bám chặt vào những kiến thức các bộ môn có liên quan; Phải bảo đảm nội dung và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những chân trời mở cho sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học sinh, trên cơ sở bảo đảm được chủ đích, yêu cầu chung của giờ học.

    Nội dung dạy học của thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải làm rõ những tri thức và kĩ năng cần hình thành, tích luỹ cho học sinh qua phân tích, chiếm lĩnh kiến thức; mặt khác, phải chú trọng nội dung tích hợp giữa tri thức bộ môn mình dạy với các bộ môn khác.

    “Mặt khác, giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn theo quan điểm tích hợp phải chú trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các hoạt động phức hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí các tình huống đặt ra, qua đó không những lĩnh hội được những tri thức và kĩ năng riêng rẽ của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực tích hợp” - Thầy Lượng trao đổi.


    “Tổ chức chủ đề tích hợp liên môn tuyệt đối không cho học sinh biết trước hệ thống câu hỏi và nội dung kiến thức mà chúng ta chỉ thông báo chủ đề dạy học để các em tự tìm tòi, khám phá nội dung liên quan.

    Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh được vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo của các em”.

    Thầy Lê Viết Lượng
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này