Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 12/10/15.

Lượt xem: 127

  1. Hoài An Điều hành viên

    [​IMG]Các trường sư phạm sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến công tác bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng


    Đó là chia sẻ của tiến sỹ Lê Thanh Huy và thạc sỹ Bùi Văn Vân - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

    Quá trình dạy học là một chu trình liên tục


    Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng giúp các nhà giáo tương lai không chỉ hình thành được tri thức và kỹ năng nghề nghiệp mà ngay từ khi còn trên ghế nhà trường đã thấm nhuần, do chính người học phát hiện, nghề dạy học của xã hội hiện đại luôn thay đổi, hoạt động sư phạm hiệu quả là nắm bắt được sự thay đổi để đi trước sự phát triển.

    Tiến sỹ Lê Thanh Huy


    Theo đó, trình tự logic của nghiên cứu khoa học có thể được mô hình hóa qua các giai đoạn cơ bản như sau: Áp dụng mô hình này vào việc dạy học với tư cách một phương pháp dạy học chúng ta xây dựng trật tự tương tự trong thiết kế từng môn học và từng vấn đề trong nội dung môn học, bài học.

    Việc nghiên cứu một môn học hay một bài học sẽ bắt đầu từ việc người dạy cùng với người học phát hiện, đặt ra vấn đề cần giải quyết từ việc phân tích hiện trạng giáo dục trong khuôn khổ bài học, chủ đề môn học và liên môn.

    "Ở đây có thể là những vấn đề mà người dạy đã biết câu trả lời hoặc là một vấn đề mới của khoa học. Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn này người học phải tiến hành nhiều hoạt động học khác nhau, phân tích hiện trạng giáo dục, nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp tài liệu lý thuyết, tìm đọc nhiều công trình nghiên cứu giáo dục bàn về các vấn đề tương tự" - tiến sỹ Lê Thanh Huy chia sẻ.

    Giai đoạn tiếp theo sẽ là giải quyết vấn đề đặt ra thông qua hoạt động tác động sư phạm do người học tiến hành, phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để thu thập thông tin, xử lý thông tin.

    Ở đây công việc của người dạy là hướng dẫn và trợ giúp, công việc của người học là người thực hiện việc giải quyết vấn đế. Điểm mấu chốt của giai đoạn này là người học phải sáng tạo ra câu trả lời thông qua hoạt động nghiên cứu.

    Mức độ sáng tạo có thể không lớn, có thể chỉ là sự áp dụng những nguyên tắc, quy trình đã được nghiên cứu vào nhữn điều kiện cụ thể và mới, nhưng vẫn phải là sáng tạo chư không phải nói lại những lời giải có sẵn.

    Giai đoạn cuối là sẽ đánh giá việc đặt và giải quyết vấn đề, trên cơ sở đó đặt ra những vấn đề mới để giải quyết. Việc đánh giá này được thực hiện theo quy chế đánh giá đề tài nghiên cứu khoa học. Cứ như vậy toàn bộ quá trình dạy học sẽ là một chu trình liên tục đặt, giải quyết, đánh giá các vấn đề.

    Có thể mô phỏng quá trình dạy học như một chuỗi hoạt động cùng nhau liên tục của người dạy và người học như sau: Chẳng hạn như khi dạy học phần phương pháp dạy học môn Vật lý, để dạy học một phương pháp cụ thể như phương pháp dạy học nêu trên và giải quyết vấn đề.

    Giảng viên sẽ tổ chức dạy như sau: Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đáp ứng được những nguyên tắc dạy học của giáo dục đại học hiện đại: Bảo đảm vị thế tích cực, chủ động của người học, hình thành phương pháp làm việc khoa học, phát triển hứng thú nhận thức, bảo đảm tốt nhất yêu cầu cá biệt hóa dạy học, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức, nhân cách của người học trưởng thành, bảo đảm xu hướng hướng dân chủ hóa nhà trường; phù hợp với điều kiện không gian và thời gian của việc đào tạo trong xã hội hiện đại.

    Vị trí việc làm trực tiếp chủ yếu của sinh viên sư phạm là những giáo viên đứng lớp hoặc thực hành quản lý nhà trường, năng lực thực hành và những phẩm chất tâm lý đồng hành với năng lực ấy là công cụ giúp họ hoàn thành sứ mệnh của mình.

    Vượt qua giới hạn "giáo trình truyền thống"

    [​IMG]
    Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đáp ứng được những nguyên tắc dạy học của giáo dục đại học hiện đại

    Theo tiến sỹ Lê Thanh Huy và thạc sỹ Bùi Văn Vân, trong chương trình dạy học môn Giáo dục và môn Phương phương pháp dạy học bộ môn cần định hương thứ bậc ưu tiên cho những chủ đề thực tiễn, nhất là thực tiễn về nội dung dạy học, giáo dục, phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại, kỹ thuật và hình thức dạy học mới.

    Đối với môn Tâm lý học cần định hướng thứ bậc ưu tiên cho các chủ đề, các yếu tố và biện pháp phát triển từng lĩnh vực nhan cách học sinh, nhân cách giáo viên.

    Học phần Nghiên cứu khoa học giáo dục cần định hướng chủ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, các thiết kế nghiên cứu, kỹ thuật thực hiện nghiên cứu ứng dụng.

    Điều này cũng có nghĩa là: Thứ nhất giáo trình môn học phải vượt qua giới hạn "giáo trình truyền thống" chủ yếu cung cấp thông tin. Tính xuyên môn và xuyên ngành sẽ là các tính trội của các giáo trình và chương trình đạo.

    Thứ hai, người giảng viên phải là một nhà nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Giảng viên phải thấy được tính "sống còn" của nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, của dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, tâm huyết với nó, biết cách tìm tòi và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh, biết cách tổ chức dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Chỉ trường hợp này người dạy mới có thể hướng dãn người học nghiên cứu được.

    Thực tiễn cho thấy để đạt được điều này đòi hỏi phải thành lập các nhóm nghiên cứu, giảng dạy, tập hợp các nhà giáo nhà nghiên cứu sư phạm đa ngành thuộc nhiều chuyên môn khác nhau.

    Họ vừa cùng nhau thực hiện những đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, cùng trao đổi để bồi dưỡng cho nhau về nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, về dạy học theo hướng này.

    Thứ ba, các phương tiện phục vụ học tập, nhất là tài liệu dạy học phải đa dạng, đầy đủ theo hướng phục vụ nghiên cứu. Bên cạnh những phương tiện, tài liệu truyền thống như: Tài liệu lý thuyết, phòng thực hành cần nhiều sự đầu tư cho những tư liệu thuộc về thông tấn khoa học để người học vừa tìm kiếm được tri thức và kỹ thuật dạy học, kỹ thuật nghiên cứu vừa có lộ trình tiếp cận phù hợp với quá trình học tập các các môn học. Mặc khác khi tiến hành hành nghiên cứu sẽ không sao chép, nghiên cứu trùng lặp một cách không cần thiết.

    Thứ tư, phương kiểm tra, đánh giá phải hướng trước hết vào đánh giá năng lực tự học, tự nghiên cứu, khả năng sáng tạo của người học, chuyển từ đánh giá cuối môn học, cuối học kỳ sang các hình thức đánh giá quá trình, đánh giá theo từng công đoạn của quá trình học tập, nghiên cứu.

    Thứ năm, việc quản lý quá trình dạy học phải dịch chuyển theo hướng gắn với thực tiễn dạy học, giáo dục, hình thành năng lực hơn là hình thành tri thức hàn lâm và kỹ năng riêng rẽ, gắn với nhữn đặc thù của việc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng hơn là của việc dạy học theo khuôn mẫu có sẵn.

    Thứ sáu, xây dựng và duy trì sự bền vững một hệ thống các cơ sở nghiên cứu và thực hành sư phạm. Hệ thống cơ sở này được xây dựng trên nguyên tắc vì lợi ích của hai bên.

    "Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đòi hỏi trước hết nội dung phải được thiết kế hướng vào các vấn đề, câu hỏi thực tiễn cụ thể của từng môn học hay lĩnh vực ứng dụng. Phải cấu trúc lại chương trình môn học theo chủ đề thực tiễn giao dục đòi hỏi là chủ yếu thay cho cấu trúc logic của khoa học mang tính hàn lâm" - Thạc sỹ Bùi Văn Vân
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này