Tắt Quảng Cáo [X]
Bí quyết mang hơi thở cuộc sống đến từng bài dạy Hóa học | Bụi phấn - Diễn đàn dạy và học
Bí quyết mang hơi thở cuộc sống đến từng bài dạy Hóa học

Thảo luận trong 'Trao đổi, thảo luận' bắt đầu bởi Hoài An, 31/5/16.

Lượt xem: 113

  1. Hoài An Điều hành viên

    Lựa chọn kiến thức thực tế vào bài giảng

    Hóa học là môn khoa học thực nghiệm và được rút ra từ thực tiễn đời sống, phục vụ cho thực tiễn đời sống. Vì vậy, khi giảng dạy, nếu nội dung bài dạy càng thiết thực, hấp dẫn, lôi cuốn thì học sinh càng dễ dàng tiếp nhận và nhớ lâu.

    Thầy Nguyễn Viết Tấn - giáo viên Trường THPT Tống Văn Trân (Ý Yên - Nam Định) - cho rằng, đây là công việc đầu tiên giáo viên cần thực hiện để có được một bài giảng Hóa học mang hơi thở cuộc sống. Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân với mỗi bài về chất cụ thể trong chương trình Hóa học vô cơ lớp 10, 11, thầy Nguyễn Viết Tấn cho biết mình thường tìm hiểu những kiến thức thực tế có liên quan đến bài giảng qua sách, báo, Internet...; lựa chọn các kiến thức thực tế đó và sử dụng linh hoạt trong quá trình giảng dạy.

    Cụ thể, giáo viên có thể sử dụng hiện tượng thực tiễn đời sống để bắt đầu vào bài học. Đó có thể là một câu chuyện hoặc một ứng dụng thú vị nào đó mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhằm tạo hứng thú cho các em khi bắt đầu vào bài học. Ví dụ, khi dạy bài N2 (Hóa học 11), giáo viên dùng một số câu hỏi tạo hình huống vào bài như: Không khí sạch chứa thành phần như thế nào? Nếu bầu khí quyển chỉ có khí O2 thì sự sống sẽ thế nào?

    Giáo viên giải thích: Trong khí quyển, nitơ chiếm 78,09%; oxy chiếm 20,95%; argon chiếm 0,93% về thể tích còn lại là hơi nước, khí cacbonic. O2 rất cần thiết cho hô hấp của con người, nhưng nếu bầu khí quyển chỉ toàn khí O2 thì sẽ không có sự sống. Vì khi đó chỉ cần đốt một que diêm, toàn bộ Trái đất sẽ cháy như một ngọn đuốc và không thể dập được. Ngoài ra, theo nghiên cứu, nếu người thợ lặn hít thở bằng O2 thuần tuý mà không có nitơ thì chỉ lặn sâu không quá 20m và bị trúng độc oxy. Như vậy, có thể thấy N2 trong không khí cũng rất quan trọng. N2 giống một người canh giữ hòa bình cho cả Trái đất. Nếu không có N2 cũng không có sự sống.

    Sử dụng hiện tượng thực tiễn trong giờ học

    Giáo viên sử dụng hiện tượng thực tiễn trong quá trình giảng dạy thông qua các phương trình phản ứng hóa học cụ thể, các ứng dụng của các chất. Theo thầy Nguyễn Viết Tấn, cách nêu vấn đề này mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học.

    Ví dụ, khi giới thiệu về tính OXH mạnh của O3, giáo viên đặt thêm câu hỏi: Vì sao sau những cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát mẻ hơn?

    Giáo viên cũng có thể sử dụng hiện tượng thực tiễn thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười. Những câu chuyện này có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Đây là cách góp phần tạo không khí học tập thoải mái, đồng thời kích thích niềm đam mê học Hóa.

    Ví dụ, với bài Photpho - Hóa học 11, giáo viên, học sinh có thể cùng thảo luận câu hỏi: Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống? Vậy thuốc chuột là gì? Cái gì đã làm chuột chết? Hoặc bài Muối Clorua – Hóa học 10, câu hỏi có thể đưa ra thảo luận là tại sao nước biển lại mặn?...

    Phần củng cố kiến thức bài học, giáo viên cũng nên sử dụng hiện tượng thực tiễn để giúp cho học sinh vận dụng luôn kiến thức vừa học vào suy luận giải thích các hiện tượng thực tế mà các em vẫn gặp. Qua đó, học sinh sẽ khắc sâu được kiến thức của bài học. Ví dụ, giáo viên nêu câu hỏi: Nước đá khô là gì và có công dụng như thế nào? Làm thế nào để tạo khói màu trên sân khấu? (Bài Hợp chất cacbon – Hóa học 11).

    Sử dụng hiện tượng thực tiễn để đặt ra các câu hỏi bài tập về nhà sau mỗi bài dạy và sử dụng trong câu hỏi kiểm tra bài cũ của tiết tiếp theo cũng rất cần thiết. Học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó, từ đó giúp các em hình thành thói quen luôn đặt ra các câu hỏi trong thực tiễn và tìm cách giải quyết.

    Gắn giảng dạy vớnội dung giáo dục môi trường, giáo dục kỹ năng sống

    Ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nóng và được sự quan tâm của toàn xã hội. Vì thế trong quá trình giảng dạy, thầy Nguyễn Viết Tấn cho biết thường chủ động cho học sinh tìm hiểu và xây dựng 2 chuyên đề về giáo dục môi trường, kỹ năng sống những kiến thức có thể lồng ghép vào chương trình.

    “Với các lớp học ở trường tôi đều được trang bị đầy đủ hệ thống máy tính, máy chiếu, loa… Học sinh có thể tự tìm hiểu trên báo, tivi, Internet...; tự xây dựng bài trên phần mềm PowerPoint và trực tiếp lên bảng thuyết trình. Giáo viên chỉ định hướng và bổ sung thêm thông tin.

    Như, sau chương VI (Nhóm Oxy - Lưu huỳnh, Hóa học 10), tôi cho học sinh chuẩn bị trước, trình bày và thảo luận các vấn đề: Giáo dục về môi trường; Kỹ năng sống – Ô nhiễm môi trường...” – thầy Nguyễn Viết Tấn chia sẻ.

    Sử dụng bài tập trắc nghiệm về hiện tượng thực tế cuối mỗi chương

    Cùng cung cấp các kiến thức thực tế trong mỗi bài dạy, sau mỗi chương, giáo viên sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan liên quan đến hiện tượng thực tế, không đặt quá nặng về việc ghi nhớ máy móc và tính toán phức tạp mà chú trọng đến khả năng suy luận và giải quyết vấn đề thực tế.

    Các loại câu hỏi thầy Nguyễn Viết Tấn thường sử dụng gồm: Câu hỏi liên quan đến hiện tượng thực tiễn đã được giới thiệu; các câu hỏi mang tính chất vừa giới thiệu tính chất, ứng dụng của các chất vừa suy luận tìm phương án giải quyết. Đây là một dạng bài mới và hay giúp học sinh vừa giải quyết vấn đề vừa cung cấp thêm các thông tin cần thiết.

    Ngoài việc kiểm tra kiến thức trọng tâm của chương, giáo viên cũng cần sử dụng thêm những câu hỏi cả trắc nghiệm và bài tập dựa trên kiến thức đã học để giải quyết vấn đề của thực tiễn đời sống. “Việc đổi mới giảng dạy cần thực hiện một cách đồng bộ, cùng việc đổi mới giảng dạy cần đổi mới cả kiểm tra đánh giá để đạt được kết quả cao nhất” – thầy Nguyễn Viết Tấn nhấn mạnh.
    Nguồn: giaoducthoidai.vn
    Đang tải...

  2. Bình luận bằng Facebook

Chia sẻ trang này